Sông Bạch Đằng chảy giữa hai huyện Yên Hưng (QuảngNinh) và Thủy Nguyên (Hải Phòng), cách vịnh Hạ Long, Cửa Lục khoảng 40km. Việt sử thông giám cương mục dựa theo Dư địa chí của Nguyễn Trãi chép: “Sông Bạch Đằng rộng hơn hai dặm, ở đó có nhiều núi cao ngất, nhiều ngành sông đổ lại, sóng cồn man mác đế tận chân trời”. Ca dao dân gian địa phương có câu “Nhất cao là núi U Bò. Nhất đông chợ Giá, nhất to sông rừng”. Sông Bạch Đằng hiểm yếu mà hùng vĩ, như nhà thơ nổi tiếng ở thế kỷ 13, Trương Hán Siêu đã mô tả: “Qua cửa Đại Than, ngược bến Đông Triều. Đến sông Bạch Đằng, thuyền bơi một chiều. Bát ngát sóng kình muôn dặn. Thướt tha đuôi vĩ một màu. Nước trời một sắc, phong cảnh ba thu. Bờ lau san sát, bến nước đìu hiu”.

Nước sông Bạch Đằng hằng ngày theo thủy triều lên xuống. Khi triều lên cao, mặt sông ở vùng Tràng Kênh trải rộng hơn 1,2km. Dòng sông đã rộng lại sâu. Khi triều xuống, nước rặc, nơi sâu nhất đến 16m, trung bình giữa sông cũng sâu từ 8m đến 11m. Theo sông Đá Bạc chảy xuống đến đầu dãy núi Tràng Kênh, sông Bạch Đằng phình to, là nơi tập trung các dòng nước của sông Khoai, sông Xinh bên tả ngạn và sông Gia Đước, sông Thái, sông Giá bên hữu ngạn đổ về. Sông Chanh, sông Kênh (cửa sông ngày nay đã bị bồi lấp và sông Rút (còn gọi sông Nam) là chi lưu bên tả ngạn Bạch Đằng, chia bớt nước chảy ra vịnh Hạ Long. Một khúc sông dài không quá 5 km mà có 5 dòng nước đổ về và có ba nhánh sông phụ đưa nước ra biển. Đó là hình thế của thượng lưu sông Bạch Đằng.

Ở lòng sông Bạch Đằng, từ bên hữu ngạn (thuộc xã Phục Lễ, Thủy Nguyên) có một cồn đá ngầm chảy qua đến quãng giữa sông Chanh và sông Rút. Nhân dân địa phương gọi đây là Gềnh Cốc, có 5 cồn đá chắn ngang gần 3/4 sông. Khi triều xuống thấp nhất, cồn cạn chỉ cách mặt nước 0,40m, cồn sâu 3,70 m, thuyền lướt nhẹ trên sông có thể thấy được những cồn đá. Gềnh Cốc có cấu tạo bằng đá gốc do chân núi Tràng Kênh kéo dài ra. Gềnh Cốc án ngữ sông là một chướng ngại thiên nhiên của sông Bạch Đằng. Khi trời mưa to, gió lộng, thuyền qua lại thường gặp nguy hiểm. Ca dao dân gian có lời nhắn nhủ: “Con ơi nhớ lấy lời cha. Mưa nguồn, chớp giật chớ qua sông Rừng”. Chính vì thế, trước đây thuyền xuôi Bạch Đằng ra biển thường phải rẽ theo đường sông Chanh mà ít qua Gềnh Cốc ra cửa Nam Triệu. Sông Chanh, chi lưu lớn của sông Bạch Đằng, chảy qua huyện Yên Hưng là đường ngắn nhất và là tuyến giao thông thủy quan trọng nhất đi ra vịnh Hạ Long và miền Đông Bắc. Đặc điểm địa hình nổi bật của vùng thượng lưu sông Bạch Đằng là sông, núi rừng nối tiếp liền nhau. Bên tả ngạn sông Bạch Đằng xưa kia là một cánh rừng sâu thuộc trại Yên Hưng, lộ Hải Đông. Cánh rừng chạy sát bên bờ sông tiếp liền với những bãi sú, vẹt ven sông. Rừng xưa nay không còn nữa nhưng vẫn lưu giữ lại một số địa danh cho đến nay như: sông Rừng, bến Rừng, làng Rừng, chợ Rừng, giếng Rừng…

Bên hữu ngạn, từng ngọn núi đá nhấp nhô của dãy núi đá Tràng Kênh, phía đông huyện Thủy Nguyên kéo nhau chạy sát tới bờ sông. Ở đó, có nhiều thung lũng nhỏ nằm gọn giữa những ngọn núi đá vôi nối liền với những lạch nước ra tận sông mà nhân dân địa phương hay gọi là áng núi, như áng Hồ, áng Lắc, áng Chậu, áng Táu…

Các sông Khoai, sông Xinh bên tả ngạn và sông Giá, sông Thái. Sông Giá chảy bên các áng, len qua dãy núi tạo thành những nơi dấu quân và đường vận động của quân thủy. Những ngọn núi cao chắn tầm mắt địch. Áng núi và lạch sông là nơi có thể tập trung quân thủy bộ với khối lượng lớn, nơi giấu quân vững chắc và kín đáo, vị trí xuất kích bí mật và dễ dàng, từng đội thuyền ra vào nhẹ nhàng, nhanh chóng. Dưới góc nhìn quân sự, đây là địa hình lý tưởng cho những trận đánh mai phục. Hiểu rõ sông Bạch Đằng hiểm yếu như vậy nên trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, bảo vệ đất nước, Tổ tiên ta thường chọn nơi đây để tiến hành những trận quyết chiến chiến lược với kẻ thù:

Cuối năm 938, lấy cớ giúp Kiều Công Tiễn chống Ngô Quyền, vua Nam Hán là Lưu Cung sai con là Lưu Hoàng Thao chỉ huy thủy binh theo đường biển vào xâm lược Giao Châu; đồng thời tự mình dẫn một đạo quân khác đóng ở Hải Môn (Quảng Đông, Trung Quốc) sẵn sàng tiếp ứng. Tháng 12-938, từ Châu Ái (Thanh Hóa), Ngô Quyền gấp rút tiến quân ra Bắc giết Kiều Công Tiễn. Tiếp đó, bằng trận địa cọc ngầm cùng quân thủy, bộ mai phục ở cửa sông Bạch Đằng, Ngô Quyền chỉ huy quân dân ,Giao Châu tiêu diệt đạo quân thủy, giết Lưu Hoàng Thao. Vua Nam Hán không kịp chi viện phải rút quân

Tháng 4-981, nhà Tống cử nhiều tướng giỏi mang 30 vạn quân sang xâm lược Đại Cồ Việt, Lê Hoàn chỉ huy quân và dân ta đánh giặc. Ông cho xây dựng trận địa cọc ngầm ở cửa sông Bạch Đằng, dùng mưu dụ địch vào trận địa mai phục, đồng loạt tiến công giết hàng vạn quân Tống, chém đầu tướng chỉ huy Hầu Nhân Bảo. Thừa thắng, ra bao vây, tiến công tiêu diệt đội kỵ binh địch ở Tây Kết, bắt sống tướng địch, buộc nhà Tống bãi binh.

Sau 5 tháng tiến hành chiến tranh xâm lược Đại Việt bị bại trận ề chề, tháng 4-1288, quân đội Mông-Nguyên do Thoát Hoan chỉ huy tìm đường rút về nước. Chúng rút theo hai đường thủy và bộ. Nắm vững thời cơ, quân và dân nhà Trần tổ chức phản công. Đạo quân bộ do Thoát Hoan đích thân chỉ huy bị quân và dân ta đánh cho tơi tả trên đường chạy từ Thăng Long lên Lạng Sơn. Nhằm tiêu diệt đạo quân thủy do Ô Mã Nhi chỉ huy chạy về nước theo hướng ra biển, Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn đã chỉ huy quân và dân nhà Trần chuẩn bị sẵn trận địa cọc ngầm trên sông Bạch Đằng và trận địa mai phục của quân thủy trên các sông nhánh, quân bộ hai bên bờ sông, chờ địch tới. Đoàn thuyền của Ô Mã Nhi đang xuôi theo sông Bạch Đằng ra biển thì thủy triều rút, hàng nghìn cọc ngầm dưới sông nhô lên chọc thủng thuyền giặc. Đang khi giặc lúng túng, quân mai phục thủy bộ nhà Trần ào ra tiến công. Thủy binh địch trước mặt, sau lưng, hai bên đều bị đòn đánh. Máu giặc loang dài suốt một vùng sông, khiến cho “nước sông đến nỗi đỏ ngầu” (Đại Việt sử ký toàn thư). Tướng giặc là Ô Mã Nhi bị quân và dân nhà Trần bắt sống.

Chiến thắng Bạch Đằng năm 1288 là sự thể hiện tập trung những sáng tạo về nghệ thuật quân sự của Trần Quốc Tuấn và quân và dân nhà Trần: biết phát huy cao độ những cố gắng chủ quan, tận dụng mọi điều kiện khách quan thuận lợi và những sai lầm của địch để đánh thắng địch, giành thắng lợi vẻ vang.

Hà Thành