Trong nhiều mặt công tác nổi trội, đối ngoại Quốc phòng đã được khẳng định là trụ cột để “Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế - xã hội”. Đó cũng là những đóng góp xuất sắc của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng trong xây dựng nền hòa bình bền vững, tạo vị thế đường hoàng, tin cậy của Việt Nam trên trường quốc tế.

Trước tiên, phải khẳng định rằng, từ lịch sử truyền thống dựng nước và giữ nước, cha ông ta bao giờ cũng đặt vấn đề hòa bình, hòa hiếu lân bang lên hàng đầu. Tại sao lại như vậy? Đó là vì chỉ khi có được nền hòa bình bền vững mới có thể phát triển đất nước toàn diện, lâu dài. Nhưng dẫu hòa bình là khát vọng ngàn đời của tổ tiên ta, chúng ta thời nào cũng phải hết sức nỗ lực mới thực hiện được khát vọng nhân văn ấy. Lịch sử Việt Nam trải qua rất nhiều cuộc chiến tranh. Đau thương, mất mát vô cùng lớn nhưng khát vọng hòa bình luôn cháy bỏng truyền từ đời này sang đời khác. Người Việt Nam, từ vua chúa, tướng lĩnh tới người dân nơi thôn cùng xóm vắng không ai muốn cầm gươm giáo gây họa chiến tranh, mà chỉ muốn cầm cày bừa yên ổn ruộng vườn. Nhưng hễ khi có giặc ngoại xâm, thì dù nó mạnh đến mấy cũng đều đại bại. Dân tộc ta luôn đem đại nghĩa thắng hung tàn/ lấy chí nhân thay cường bạo nên giặc đến tất tan, kẻ xâm lăng tất bị đuổi về đất chúng. Sau mỗi chiến thắng, điều đầu tiên cha ông ta nghĩ đến là gây dựng hòa bình. Từ thời Đinh, Lý, Trần, Lê… đều thực hiện chính sách này. Có những lúc chúng ta còn thực hiện chính sách bảo vệ đất nước từ xa như triều Lý. Có những lúc chúng ta mềm mỏng, nhún nhường để có được hòa bình. Kế sách mỗi lúc mỗi khác nhưng tuyệt đối chúng ta không tranh cường, hiếu thắng với nước khác. Chúng ta luôn tự nhủ, ước vọng lớn nhất là hòa bình. Đó là phẩm chất cũng là bản lĩnh rất tự nhiên của người Việt Nam. Ngày trước đã vậy mà hôm nay càng như thế. Chưa khi nào khát vọng về môi trường hòa bình bền vững cháy bỏng như hôm nay. Chúng ta đủ trưởng thành và bản lĩnh để thực hiện tốt nhất điều chính đáng này. Trong thời đại Hồ Chí Minh, đã có đủ những yếu tố và nhân tố để thực hiện ước vọng hòa bình, hữu nghị với bạn bè quốc tế. Trên thực tế, Việt Nam đang thực hiện rất tốt công cuộc gìn giữ hòa bình. Và từ nền tảng ấy, Việt Nam đang có được sự ổn định để phát triển kinh tế - xã hội.

Tái hiện hình ảnh chiến sĩ Điện Biên anh hùng tại Lễ diễu binh kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (7-5-1954 / 7-5-2024). Ảnh: qdnd.vn

Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay, nhiều vấn đề lớn được đặt ra, nhiều trọng trách được đặt lên đôi vai người chiến sĩ. Đường lối đối ngoại và hội nhập quốc tế “Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế - xã hội” khởi đầu từ Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) và liên tục được bổ sung trong các kỳ đại hội tiếp theo. Đảng ta đánh giá rất cao vị trí, tầm quan trọng của công tác Đối ngoại quốc phòng, một bộ phận mà hiện nay đã là trụ cột nằm trong tổng thể đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và ngoại giao nhân dân khi đất nước ta đang hội nhập ngày càng toàn diện và sâu rộng vào khu vực và trên thế giới.

Hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng nhằm mục tiêu xuyên suốt là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững ổn định chính trị, môi trường hòa bình và tạo điều kiện để xây dựng, phát triển đất nước một cách bền vững. Chúng ta luôn xác định và coi hội nhập quốc tế, đối ngoại quốc phòng là định hướng chiến lược, là kế sách bảo vệ Tổ quốc từ xa bằng biện pháp hòa bình. Hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng phải nhằm tăng cường niềm tin chiến lược, duy trì môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác cùng phát triển, tôn trọng mọi lợi ích quốc gia, dân tộc. Bằng những hoạt động hiệu quả, đối ngoại quốc phòng đã có đóng góp quan trọng vào thế trận đối ngoại chung của đất nước, góp phần làm nổi bật hình ảnh một đất nước Việt Nam thân thiện, một Quân đội Việt Nam giản dị, anh hùng trong mắt bạn bè quốc tế. Người chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam hôm nay đã và đang được biết đến là những người luôn tích cực, chủ động bảo vệ môi trường hòa bình trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam.

Chúng ta luôn thấy rất rõ và thực sự tự hào rằng, dân tộc Việt Nam là một dân tộc yêu chuộng hòa bình. Chúng ta phải cầm súng chiến đấu thì mục đích đầu tiên hướng tới cũng là một nền hòa bình bền vững cho nhân dân. Nhưng kẻ thù với sự tham lam và dã tâm của mình đã nhiều lúc đi ngược lại xu thế chung là hòa bình và phát triển của toàn nhân loại. Tổ tiên cha ông ta đã từng khảng khái tuyên ngôn: Sông núi nước Nam, vua Nam ở/ Rành rành định phận ở sách trời/ Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm/ Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời. Đó là lòng tự trọng và tính tự tôn trước sau như một của người Việt Nam. Sau khi đánh thắng giặc Nguyên-Mông, vua Trần Nhân Tông, một vị vua Phật hiền minh của dân tộc Việt Nam về bái yết Chiêu Lăng (Lăng  vua Trần Thái Tông) khi nhìn thấy ngựa đá lấm bùn đã thốt lên: “Xã tắc hai phen chồn ngựa đá/ Non sông nghìn thuở vững âu vàng” đã cho thấy, dù rất xúc động nhưng càng khẳng định sự an nhiên, vững vàng của quốc gia có nền tự chủ, dẫu giặc ngoại xâm tàn bạo đến đâu cũng không thể khuất phục. Nói thế để thấy, ta luôn tôn trọng lợi ích và chủ động mở rộng quan hệ, để tìm tiếng nói chung là môi trường hòa bình.

Cán bộ, nhân viên Đội Công binh số 3. Ảnh:qdnd.vn

Sinh thời, trong lúc vận nước gian nguy, Bác Hồ từng nói: “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Điều này luôn vừa là kinh nghiệm vừa là phương hướng hành xử cho chúng ta. Lợi ích của chúng ta là bất biến. Chủ quyền của chúng ta được lịch sử thừa nhận, luật pháp quốc tế bảo vệ là bất biến. Chúng ta luôn đề cao tính nhân văn khi thực thi luật pháp quốc tế trên biển. Lực lượng chức năng của ta đã nhiều lần cứu tàu đắm vỡ, cấp phát xăng dầu, trợ giúp y tế đối với ngư dân các nước trên biển đã gây được niềm tin cậy lớn. Chính từ những việc làm đó mà vấn đề an ninh biển ngày càng được thực hiện tốt hơn.

Với đặc thù vị trí địa lý Việt Nam, chúng ta không chỉ có vùng biển rộng lớn mà còn có đường biên giới trên bộ tiếp giáp ba nước Trung Quốc, Lào, Campuchia độ dài hàng nghìn km. Đặc biệt với đường biên mốc giới trên bộ tiếp giáp nước bạn Trung Quốc đã được cắm xong, nhiều nơi đã tôn tạo, tăng dày góp phần khẳng định chủ quyền mỗi bên. Cùng với việc đó, chúng ta đã tổ chức thành các cuộc Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt - Trung, Việt - Lào, Việt Nam - Campuchia với nhiều hoạt động có ý nghĩa sâu sắc với đời sống chính trị, tinh thần của quân và dân vùng biên giới hai nước, góp phần khẳng định rõ nét hơn quan hệ đối tác, hợp tác chiến lược toàn diện với các nước có chung đường biên giới. Đây cũng là thành tựu lớn của công tác Đối ngoại quốc phòng những năm qua.

Một trong những điểm sáng của công tác Đối ngoại quốc phòng thời gian qua là việc ta cử lực lượng tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc. Khi chúng ta triển khai thành công Bệnh viện dã chiến cấp 2 với tính hiệu quả cao, tạo được dấu ấn rất tốt trong cộng đồng Liên hợp quốc.

Trước hết chúng ta phải nhận thức tại sao lại tham gia? Đó là vì Việt Nam là thành viên có trách nhiệm trong hội đồng Liên hợp quốc. Chúng ta luôn tôn trọng quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi quốc gia trong mái nhà chung. Cũng phải thấy thêm rằng, trong các cuộc chiến tranh vệ quốc và ngay trong thời bình hôm nay, với khối ASEAN và riêng Việt Nam, Liên hiệp quốc đã giúp đỡ rất nhiều. Vậy chúng ta cũng phải có nghĩa vụ đóng góp thiết thực vào các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hiệp quốc. Việt Nam là quốc gia có trách nhiệm, nhất là với nhiệm vụ gìn giữ hòa bình.

Là một nước từng chịu nhiều đau khổ trong chiến tranh, Việt Nam luôn ý thức sâu sắc hòa bình mới là cội rễ ấm no hạnh phúc của toàn nhân loại. Bởi vậy Đảng và Nhà nước ta đã giao cho quân đội tham gia nhiệm vụ gìn giữ hòa bình tại Liên hợp quốc. Khi triển khai ta phải chọn vấn đề gì, việc gì phù hợp với khả năng và thế mạnh của ta. Việc đưa các quân nhân vào tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc vừa phải theo luật pháp quốc tế vừa phải phù hợp với pháp lý, đạo lý Việt Nam.

Vấn đề phải làm từng bước rất thận trọng. Ban đầu còn nhiều ý kiến khác nhau nhưng khi tổ công tác được cử đi thực hiện nhiệm vụ gìn giữ hòa bình ở Nam Sudan, Abyei đã tạo hình ảnh tốt về một đất nước Việt Nam thân thiện, có trách nhiệm, có nghiệp vụ đã tạo được sự đồng thuận khi chúng ta cử sĩ quan tham gia lực lượng này. Đến khi Liên hợp quốc mời các nước tham gia lập bệnh viện dã chiến ở Nam Sudan, Việt Nam đã vượt qua mười mấy nước để được mời thực hiện. Đây chính là sự tin tưởng lớn cũng là uy tín của Việt Nam với Liên hợp quốc.

Khi tiến hành thực hiện đưa Bệnh viện dã chiến sang nước bạn mọi thứ được chuẩn bị hết sức kỹ lưỡng. Những câu hỏi được đặt ra và phải được trả lời thấu đáo. Sang đó sẽ làm cái gì? Công tác chuyên môn nghiệp vụ thực hành như thế nào? Trình độ ngoại ngữ của cả đoàn công tác ra sao? Vấn đề pháp lý trong nước, luật pháp quốc tế có gì còn bất cập? Quy chuẩn quốc tế về sức khỏe, trình độ, khả năng đáp ứng… như thế nào? Rồi vấn đề văn hóa, môi trường, thổ nhưỡng, khí hậu… có ảnh hưởng gì tới sức khỏe và tâm tư tình cảm của từng thành viên hay không? Trong đoàn có mười đồng chí là nữ quân nhân thì việc thực hiện chi đội phụ nữ ngoài biên giới sẽ được tiến hành ra sao? Vấn đề thành lập và sinh hoạt chi bộ cũng được bàn đến hết sức tỉ mỉ để bạn bè Liên hợp quốc không coi đó là sự bất thường. Chúng ta đã trả lời thấu đáo từng câu hỏi bằng kế hoạch cụ thể, chi tiết. Rất nhiều câu chuyện thú vị thể hiện sâu sắc bản tính nhân văn, nhân hậu, tất tinh tế mà hết sức đời thường đối với đoàn công tác đã là những câu chuyện xúc động với bè bạn và với cả chúng ta.

Khi xác định tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc đã ngay từ đầu quán triệt anh em phải thể hiện rõ cốt cách con người Việt Nam, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong chuyên môn cũng như trong mọi sinh hoạt đời thường. Khi anh em tổ chức tăng gia, trồng rau củ quả, mới đầu thành viên các nước khác rất ái ngại và có phần tò mò không hiểu.

Đến khi được thu hoạch, anh em đem rau củ quả tặng các thành viên nước bạn sử dụng bạn mới trầm trồ khâm phục. Hoặc như việc binh sĩ các nước phải vận chuyển hầm bê tông đúc sẵn rất tốn kém và vất vả thì chúng ta cho công binh làm hai hầm chữ A chuẩn như thời chống Mỹ vừa thoáng mát vừa tăng khả năng phòng chống sát thương khiến binh sĩ các nước đều nể phục sự sáng tạo của Việt Nam.

Có nhiều thời điểm, việc xung đột giữa các bộ tộc ở Nam Sudan rất phức tạp, nhiều phe phái. Các sĩ quan của ta đã kéo cờ Việt Nam, đề chữ Việt Nam - Hồ Chí Minh thì người dân ở đó rất hoan nghênh. Giá trị Việt Nam đã ngấm đến vùng đất châu Phi xa xôi. Trẻ em ở Nam Sudan rất thích được sĩ quan ta dạy tiếng Anh và những kỹ năng y tế. Hình ảnh thân thiện của người Việt Nam luôn tạo sự tin cậy rộng lớn mỗi khi chúng ta tham gia nhiệm vụ gìn giữ hòa bình. Đây cũng là điểm sáng trong công tác Đối ngoại quốc phòng - Dấu ấn văn hóa Bộ đội Cụ Hồ, góp phần tiếp tục khẳng định giá trị và vị thế Việt Nam.

Chúng ta ai cũng hết sức tự hào về hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ. Đặc biệt việc gìn giữ hình ảnh ấy trong thời điểm hiện nay đã và đang là sự phấn đấu nỗ lực của từng người chiến sĩ trong đó có người chiến sĩ làm công tác Đối ngoại quốc phòng. Điều đó thật không dễ dàng khi chúng ta đang trong giai đoạn phát triển đầy sôi động những cũng hết sức phức tạp.

Từ những hình ảnh, việc làm đã đạt được trong công tác Đối ngoại quốc phòng - Dấu ấn văn hóa Bộ đội Cụ Hồ là hết sức có ý nghĩa, cần phải được tiếp tục phát huy sâu sắc hơn nữa, chủ động và sáng tạo hơn nữa, xứng đáng là trụ cột để: “Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế - xã hội” theo đúng chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng ta.