 |
|
Chân dung Bạch Cư Dị. |
Ông Bạch Cư Dị (772-846), một trong ba cây đại thụ trong làng thơ đời Đường (618-907), người rất nổi tiếng tại Việt Nam với bản dịch bài “
Tỳ bà hành” của Phan Huy Vịnh mà cố lão nghệ sĩ ca trù Quách Thị Hồ đã hát cả một đời (Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách-Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu…), để lại cho đời 3.840 bài thơ, văn, chưa kể thư từ.
Ông làm quan nhưng dạ luôn hướng về dân chúng, luôn thương xót người nghèo và thông cảm với cảnh khổ đau, vất vả của họ. Trong thơ, ông sẵn sàng lên án bọn tham quan ô lại, lũ quý tộc, đám trọc phú và thói vênh vang, xa xỉ của chúng.
Trong khi dịch thơ Bạch Cư Dị ra thơ Việt, lại gặp buổi đầu xuân năm mới, thấy thơ ông rất gần với đạo lý dân tộc ta, rất gần với cách nghĩ của những người lính, dù còn đang tại ngũ hay đã ra quân, tôi xin được giới thiệu hai bài thơ của ông. Tôi đã cố gắng-từ việc tìm phiên âm, giải nghĩa, chú thích đến dịch thơ-để khi đọc, ai cũng có thể hiểu ngay được.
Dưới đây là hai bài thơ vừa nói:
Bài thứ nhất (phiên âm):
Khinh phì
Ý khí kiêu mãn lộ
An mã quang chiếu trần
Tá vấn hà vi giả
4. Nhân xưng thị nội thần
Chu phất giai đại phu
Tử thụ hoặc tướng quân
Khoa phó quân trung yến
8. Tẩu mã khứ như vân
Tôn lôi dật cửu huân
Thủy lục la bát trân
Quả bích Động Đình quất
12. Khoái thiết Thiên Trì lân
Thực bão tâm tự nhược
Tửu hàn khí ích trấn
Thị tuế Giang Nam hạn
16. Cù Châu nhân thực nhân
Chú thích:
1. Thiên Trì: Ao trời (theo Trang Tử)
2. Cù Châu: nay là huyện Cù, tỉnh Chiết Giang
Dịch nghĩa:
Mặc áo cừu nhẹ, cưỡi ngựa béo
(chỉ cảnh hiển vinh)
Ý khí kiêu căng đầy đường. Yên, ngựa chiếu sáng làn bụi. Hỏi rằng đó là ai? Người ta gọi là các nội thần (bầy tôi trong triều).
Các vị ấy đều là đại phu đeo dải ấn đỏ, hoặc là tướng quân đeo dải ấn tía. Khoe rằng đi dự yến ở trong quân. Ruổi ngựa chạy như mây.
Trong chén, đầy tràn chín thứ rượu. Dưới nước, trên bộ bày tám đồ báu. Trái là quít hồ
 |
|
“Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách…”. |
Động Đình. Gỏi là cá bể Thiên Trì.
Ăn no rồi, lòng khoan khoái. Rượu say rồi, khí càng cao. Năm ấy hạn hán tại Giang Nam: ở Cù Châu, người phải ăn thịt người để mong sống sót!
Dịch thơ:
Đám “áo nhẹ, ngựa béo”
Một đám kiêu căng láo nháo
Ầm ầm qua lại trên đường
Mũ cao, rồi gươm rồi giáo
Yên cương bóng lộn như gương
Ướm hỏi, họ là ai nhỉ?
Thưa rằng, chả phải dân thường
Đại phu thì đeo ấn đỏ
Tướng quân, thao tía giáp vàng
Huênh hoang khoe vào quân lữ
Tiệc lớn, bình đầy rượu ngon
Gỏi cá Thiên Trì la liệt
Quýt thơm Động Đình đầy bàn
No rồi, dạ càng thuê thỏa
Say vào, khí lại thêm hăng
Cồ Châu-Giang Nam đại hạn
Dân xẻ thịt người mà ăn!
(Đỗ Trung Lai dịch thơ và giữ bản quyền)
Bài thứ hai (phiên âm):
Mại hoa
Đế thành xuân dục mộ
Huyên huyên xa mã độ
Cộng đạo mẫu đơn thời
Tương tùy mại hoa khứ
Quý tiện vô thường giá
Thù trị khán hoa số
Chước chước bách đóa hồng
Tiên tiên ngũ thúc tố
Thượng trương ác mạc tỉ
Bàng chức ba li hộ
Thủy sái phục nê phong
Di lai sắc như cố
Gia gia tập vi tục
Nhân nhân mê bất ngộ
Hữu nhất điền xá ông
Ngẫu lai mại hoa xứ
Đê đầu độc trường thán
Thử thán vô nhân dụ
Nhất tùng thâm sắc hoa
Vạn hộ trung nhân phú
Dịch nghĩa:
Mua hoa
Tại kinh đô, xuân sắp tàn. Ngựa xe nhộn nhịp qua lại. Người ta nói đương mùa mẫu đơn nên kéo nhau đi mua hoa.
Sang hèn không có giá thường; trị giá tùy theo số hoa. Một khóm hoa trăm bông, phải trả bằng năm cây lụa trắng.
Giăng màn che trên hoa. Rào giậu giữ gìn hoa. Rẩy nước, phủ bùn: dời đi, sắc tươi như cũ.
Nhà nhà tập quen thành tục. Ai ai cũng đều u mê không hiểu. Có một ông làm ruộng tình cờ đến chốn mua hoa.
Ông cúi đầu than dài một mình. Lời than ấy không ai hiểu cả: “Một khóm hoa tươi thắm trong lúc mười hộ người đóng thuế”.
Dịch thơ:
Mua hoa
Kinh thành vào dịp cuối xuân
Xe ngựa rầm rầm đi sắm mẫu đơn
Đơn thắm đội giá lên chót vót
Khóm trăm bông, lụa tốt năm cây
Đem về, nhà ấy nhà này
Màn che, phên chắn đêm ngày bón chăm
Hết phun nước lại tưới bùn
Chỉ cần hoa quý lâu tàn là vui
Bao năm quen nết đi rồi
Chẳng ai tiếc lụa, chẳng ai bận lòng
Có người khách từ trong làng tới
Thấy cảnh này, ông cúi đầu than:
“Trời ơi một khóm mẫu đơn
Đủ cho mười hộ dân thường nộp sưu!”
(Đỗ Trung Lai dịch thơ và giữ bản quyền)
Các bạn thấy không? Tôi đã nói mà, đâu cần phải có Hán học mới hiểu được hai bài thơ này. Chúc các bạn có một cái Tết đẹp, ngon, tiết kiệm, coi như để học cổ nhân đôi lời.
ĐỖ TRUNG LAI