QĐND - “Ngày xưa em ngây thơ/ Ngồi bói hoa hồng nở/ Bói tình yêu sau này/Vẹn tròn hay dang dở…” (Bói hoa). Đó là những vần thơ vang bóng một thời của Đoàn Lê trong buổi đầu đến với văn chương. Những vần thơ như dự báo những khúc khuỷu, gập ghềnh trong đời riêng và trong nghệ thuật của chị. Theo học lớp diễn viên điện ảnh khóa I (1959 -1962) nhưng Đoàn Lê lại mang trong mình tình yêu đặc biệt sâu nặng với văn chương. 16 tuổi chị đã có những sáng tác đầu tay đăng trên các báo chuyên văn nghệ như: Đôi mắt hoa nhài, Cây xoan non mảnh dẻ… Đến nay, chị có hơn 10 cuốn sách thuộc hai thể loại tiểu thuyết và truyện ngắn.
Đô thị hóa là một trong những chủ đề quan trọng trong sáng tác của Đoàn Lê. Chị có một xê-ri truyện ngắn viết về xóm Chùa trong cơn lốc đô thị hóa: Đất xóm Chùa, Nghĩa địa xóm Chùa, Người đẹp xóm Chùa, Xóm Chùa thời ung thư, Trinh tiết xóm Chùa… Thông qua những đổi thay, những buồn vui của một làng quê nhỏ bé ven thành phố tác giả nhận ra cơ cấu làng Việt thời hiện đại đang rạn vỡ và thay đổi chóng mặt. Những cơn sốt đất làm mưa làm gió cả làng quê vốn yên bình, lặng lẽ. Vợ chồng cãi nhau, anh em chém nhau để “tranh nửa thước đất bên cạnh con đường cao tốc vô hình”. Khao khát đổi đời bằng đất mặt đường đến nỗi lão Hớn chuyên sản xuất đô la âm phủ trong làng đã thốt lên “để có rẻo đất mặt đường dưới âm phủ, cần phải chết sớm để tranh đất, tôi xin chết ngay” (Đất xóm Chùa). Thèm khát đổi đời, người xóm Chùa không mảy may băn khoăn khi “xuất khẩu” con gái trong làng đi lấy chồng Đài Loan… Thói hám lợi không biết từ khi nào đã chen chân vào xóm Chùa, len lỏi vào mỗi gia đình, tàn phá bầu không khí bình yên khiến người xóm Chùa cứ điên lên vì tiền, bằng mọi giá muốn có tiền thật nhanh để thay đổi cuộc sống… Đi kèm với sự giàu lên về vật chất là sự hoành hành của những tệ nạn xã hội: Cờ bạc, rượu chè, nghiện ngập, đĩ điếm, bệnh tật… khiến làng quê nhỏ bé không còn bình yên được nữa.
Viết về những đổi thay của xóm Chùa dưới tác động của nền kinh tế thị trường, Đoàn Lê cho thấy bức tranh chung của những làng quê miền Bắc trong tiến trình đô thị hóa. Cơn lốc đổi thay đã tàn phá những giá trị tinh thần được gìn giữ hàng nghìn năm, khiến chúng có nguy cơ trở thành phế tích. Tiền bạc không cứu được nhân cách và những giá trị con người. Đằng sau giọng văn hóm hỉnh của Đoàn Lê, người đọc còn có thể nhận ra nỗi đau xót trước những giá trị văn hóa tinh thần đang bị tàn phá không cách gì cưỡng nổi.
Bên cạnh đề tài đô thị hóa, phần lớn truyện ngắn Đoàn Lê quan tâm đến số phận người phụ nữ trong xã hội hiện đại. Khao khát hạnh phúc, dốc lòng xây dựng nhưng số phận những người phụ nữ trong sáng tác của Đoàn Lê thường không được hạnh phúc mỉm cười. Như trong truyện Giường đôi xóm Chùa là cơn bão lòng của người phụ nữ hằng ngày phải đối diện với nỗi đau khổ âm thầm vì trên chiếc giường hạnh phúc luôn hiện diện bóng hình của người thứ ba. Tất nhiên, người thứ ba ấy chỉ là áo giác nhưng nó có thật, luôn quanh quất “giữa chồng tôi và tôi”. Người vợ không hiểu vì sao mà cuộc hôn nhân lãng mạn một thời bỗng nhiên tan vỡ, không hiểu vì sao mà người chồng có thể từ bỏ dễ dàng những kỷ niệm, những yêu thương và cả những bổn phận với gia đình vì một người đàn bà khác… Truyện ngắn là nỗi buồn sâu lắng, mênh mông về cuộc chia tay mà không hiểu hết lý do. Hầu hết các nhân vật nữ trong truyện ngắn Đoàn Lê đều là người có tâm hồn nhạy cảm, khao khát yêu, khao khát sống nhưng tình yêu hạnh phúc trớ trêu thay lại xa vời với họ vô cùng.
Viết về phụ nữ, Đoàn Lê nhận ra, hạnh phúc thật hiếm hoi trong cuộc đời. Những nhân vật phụ nữ của chị thường chịu nhiều thua thiệt, cay đắng, nhất là trong tình yêu. Nhưng dù thua thiệt, cay đắng, những người phụ nữ ấy không hề cam chịu, nhẫn nhục với sự sắp đặt của số phận. Thật dịu dàng và cũng thật kiên cường, họ dũng cảm từ bỏ hiện trạng đau khổ với đủ mọi quan hệ chằng néo để bắt đầu một cuộc sống mới cho chính mình. Không cam chịu, không buông xuôi, không chấp nhận, sẵn sàng nếm trải nỗi đau, coi nó như một trải nghiệm cuộc đời chính là một đối thoại với quá khứ, với truyền thống. Thay cho hình ảnh người đàn bà chịu đựng, người đàn bà chờ đợi, người đàn bà chấp nhận, người đàn bà hy sinh, Đoàn Lê đưa ra hình ảnh người đàn bà từ bỏ, người đàn bà kiên cường, người đàn bà tái thiết cuộc đời. Dũng cảm đối mặt với nỗi đau, đau nhưng nhất định không để nỗi đau ấy như tế bào ung thư di căn tàn hại mình, phải tìm mọi cách cắt bỏ nó để được sống cho chính mình, vì mình là điều đáng nói trong sáng tác của Đoàn Lê.
Lối viết nhẹ nhàng, hóm hỉnh, vừa hướng nội vừa hướng ngoại. Đoàn Lê viết theo lối viết đậm truyền thống, là một sự tiếp nối với truyền thống. Tính cách nhân vật thường ổn định, có phát triển nhưng là phát triển theo trục tuyến tính, tức là có thể dự đoán. Nhân vật thường được nhìn ở chiều sâu nhân bản, ở cái nhìn cảm thông xa xót, thấu hiểu, yêu thương. Điểm mới trong sáng tác của Đoàn Lê là khai thác đời sống tâm linh bí ẩn của con người và xây dựng những nhân vật biểu tượng như Ruồi (Lên ruồi), ma-nơ-canh (Cổ tích ma-nơ-canh), thế giới cõi âm (Nghĩa địa xóm Chùa)…
Sáng tác từ những năm sáu mươi của thế kỷ trước, và đến nay, dù thuộc thế hệ nhà văn có tuổi nhưng sự tươi trẻ và tấm lòng luôn háo hức với cuộc sống khiến sáng tác của Đoàn Lê vẫn đồng hành với nhịp sống của văn chương đương đại.
| Nhà văn Đoàn Lê, tên khai sinh là Đoàn Thị Lê, sinh ngày 15-4-1943 tại Hải Phòng, trải qua nhiều công việc khác nhau như thiết kế mỹ thuật, biên kịch, đạo diễn phim. Đoàn Lê từng giành Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 1989-1990 (Tiểu thuyết Cuốn gia phả để lại) và nhiều giải thưởng văn chương khác. |
Thạc sĩ TRỊNH NGUYÊN HƯƠNG