 |
|
Ảnh: Internet |
Hằng năm cứ mỗi khi cây lựu đầu hè đong đưa chiếc đồng hồ quả lắc, bình boong gõ vào nhịp thời gian và lũ ve sầu giật mình òa khóc, bọn chào mào đang huyên náo trên ngọn cây gạo, hoa nở đỏ rực cả bến sông, là đến mùa chơi diều. Không biết từ bao giờ người dân vùng trung du Phú Bình (Thái Nguyên) quê tôi đã có cái thú chơi tao nhã ấy, nhưng theo lời bà tôi kể thì khi bà biết, quê tôi đã có tục chơi diều rồi.
Nghề chơi cũng lắm công phu, muốn có được một chiếc diều như ý phải qua rất nhiều công đoạn. Đầu tiên để có đôi cánh dẻo dai và có thể chịu được những cơn gió với các cấp độ khác nhau, người chơi cũng phải lùng tìm cả ngày mới chọn được một cây tre đực như ý để làm khung. Người vót khung phải hết sức tỉ mỉ, bởi chỉ mạnh tay một chút thôi là cánh diều có thể bị lệch và như vậy là công dã tràng. Sau khi đã lên được khung rồi, người ta phải tìm mua giấy bồi, giấy bản loại thường dành cho các ông đồ viết văn tự, để mang về dán diều. Nói là dán thôi nhưng cũng không phải đơn giản, người đảm trách nhiệm vụ này phải là những lão làng có kinh nghiệm mới có thể dán được cân giữa hai cánh, để khi bay diều không bị đảo, bị lắc. Rồi phân công trai tráng đi đào củ nâu, mà phải là loại nâu già về giã lấy cốt phết cho diều để không bị ngấm nước khi gặp mưa. Sau đó mọi người dùng hai tấm vải để làm dải. Dải diều không đơn giản là vật trang điểm, mà nó chính là bộ phận cân bằng giúp cho diều luôn giữ được ổn định trong quá trình bay, cho nên kích thước của nó cũng phải cân đối với thân diều. Đến đây mọi việc tưởng chừng đã hoàn tất, nhưng không, sáo-một bộ phận không thể thiếu của mỗi chiếc diều. Sáo là linh hồn của diều, không những thế sáo còn thể hiện khả năng, kinh nghiệm và đẳng cấp của người chơi diều. Chính vì vậy người ta bỏ ra rất nhiều tâm sức cho công đoạn này, ống làm sáo phải là loại tre cái lâu năm, thuôn, dài và mỏng để sáo có độ vang, bẩng sáo thì nhất thiết phải là lục mít (lõi đỏ thân cây mít) phơi khô và phải được một người có kinh nghiệm khoét, mới cho tiếng vừa vang rền mà vẫn sâu lắng, mọi công đoạn đến đây coi như đã xong. Lúc này mỗi nhà góp thêm một, hai cây tre loại bánh tẻ để vót dây, sau đó đem dây đi luộc muối rồi nối lại với nhau, hết mùa diều người ta lại ngâm xuống ao để năm sau dùng tiếp.
Về diều thì có đủ các chủng loại cho từng lứa tuổi, nào là diều đo đo, đu đu, bi bi… tuổi nào thì có diều ấy, lũ trẻ chúng tôi được ông làm cho một chiếc bằng cái quạt mo, các anh lớn hơn thì chơi diều đo đo. Thanh niên thì chơi diều đu đu có những chiếc dài đến cả chục tấc, phải mấy người giữ dây, vậy mà mỗi lần diều đảo vẫn bị kéo đi xềnh xệch. Các bác trung niên thì làm những chiếc diều bi bi. Diều bi bi không giống như diều của lớp trẻ tiếng sáo đổ liên hồi, mà tiếng của nó khoan nhặt, vang xa và huyền bí, không những thế nó còn có thể đỗ được trên trời đến vài ngày.
Chơi diều quê tôi không chỉ đơn thuần là một thú chơi, mà nó còn gắn với những yếu tố tâm linh nữa. Bà tôi kể vào tháng ba sau tết thanh minh, cửa mả được mở, những oan hồn cù bơ cù bất, không nơi nương tựa thoát dương hay quấy quả dân làng, do vậy nên phải làm những chiếc diều to để lũ ma bám vào đó mà siêu thoát về cõi niết bàn. Không biết có đúng như bà nói không mà lũ trẻ chúng tôi chỉ được chơi diều đến lúc trời nhập nhoạng. Và tối đến, sau khi đã cơm nước xong, già trẻ, trai gái trong làng đều đổ ra bờ hồ ngồi hóng mát và bình luận về diều, còn bọn trẻ chúng tôi thì tung tăng nô đùa, đuổi bắt đom đóm. Đêm về ông tôi và những người già ngồi trên chiếc chõng tre, kê giữa sân cùng ấm chè xanh, vừa nghe sáo diều đổ vừa chiêm nghiệm về thời tiết và công việc làm ăn của dân làng.
Xa quê bao năm với những thăng trầm, sóng gió của cuộc sống, nhưng mỗi khi nhớ về quê, thì hình ảnh đầu tiên của tôi là dáng mẹ tất tả, xiêu xiêu trong nắng chiều, cây đa đầu làng sum suê ôm lấy lũ trẻ trong những trưa hè oi bức và đặc biệt là âm hưởng da diết của tiếng sáo diều bồng bềnh trong thinh không.
Hôm vừa rồi thày lên chơi với vợ chồng tôi trên thành phố, đang ăn cơm, bỗng ông buông bát lắng nghe, rồi như reo lên: “Tiếng diều?”. Vợ tôi nhanh nhảu: “Không phải đâu thày ạ, tiếng của quạt công nghiệp đấy”. Ông lặng lẽ cúi xuống và như cố nuốt miếng giò đang ăn dở. Đêm đó, mặc dù cả ngày vất vả mà mãi tôi vẫn không sao chợp mắt được. Đến gần sáng, vừa thiếp đi thì hình ảnh chiếc diều ngày nào lại ào về. Tôi reo lên rồi tung tăng chạy nhảy như thuở ấu thơ. Vợ tôi càu nhàu: Rượu đẫy vào, rồi mê sảng linh tinh. Tôi giật mình tỉnh giấc và thầm gọi hai tiếng: Diều ơi!
TẠ VĨNH HẢI