Các học giả có nhiều chữ đều cho rằng, chữ “Tết” ở Ta là do chữ “tiết” ở Tầu mà ra. “Tiết” theo nghĩa gốc là cái mắt tre, cái mấu tre chia cây tre thành nhiều đoạn khác nhau. Vì thế chữ “tiết” nơi Hán tự thuộc vào bộ trúc. Từ đó nó phát sinh thêm cái nghĩa, đoạn ngắt các phần khác nhau của thời gian. (Anh ngữ chú là division of time). Ở Trung Quốc, mỗi mùa thường có một Tết lớn. Xuân có Tết Nguyên Đán. Hạ có Tết Đoan Ngọ. Đông có Tết Hàn Thực. Thu có Tết Trung Thu. Người Việt Nam, cũng như vài quốc gia Đông Á khác, chịu ảnh hưởng của văn minh Tầu, đại loại cũng ăn Tết như vậy.
Vào những dịp tưng bừng này, có nhiều đàn ông thường vui vẻ rủ nhau ngồi nhậu hoặc âm thầm cô đơn đi “Tết”. Nghĩa “Tết” ở đây là vị từ, theo “Từ điển tiếng Việt” có uy tín của TT Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia thì nhằm chỉ thao tác “Biếu quà nhân dịp Tết”. Quà biếu có thể trên hoặc trong hoặc dưới mức tình cảm, tùy theo nhân cách và công việc của người đi biếu. Hậu Hán thư chép, Dương Chấn tự Bá Khôi làm quan to thời Đông Hán vừa học rộng lại vừa liêm chính lắm. Khi ông làm thái thú đất Đông Lai, viên chủ tịch huyện dưới quyền là Vương Mật, nhân ban đêm thanh vắng (không rõ lúc ấy có phải gần Tết hay không), ngầm đến biếu ông 10 cân vàng. Dương Chấn cười chối từ, Vương Mật cố nài “Xin quan lớn nhận cho, việc này chẳng có ai biết được mà ngại”. Dương Chấn mới nghiêm mặt bảo “Thiên tri, Địa tri, ngộ tri, tử tri. Hà vi vô tri”. Cái nhời ông Chấn ngay thẳng lồng lộng chua chát phiên ra tiếng ta là “Trời biết, Đất biết, ta biết, ngươi biết. Sao lại bảo không có ai biết”. Điển cố này về sau mang tên “tứ tri” nôm na là “bốn biết”, rất được giới quan chức có học ưa dùng, nhất là những người thích đưa và nhận hối lộ. Vì vậy ở ta thời thực dân phong kiến thối nát mới có chuyện một tổng đốc người Việt nổi tiếng giỏi chữ Nho, sau lễ Noel muốn đi Tết ông thượng cấp người Tây quá, đành lưỡng lự thăm dò ý bằng tứ thơ có câu bộc bạch “Lòng đau đáu những muốn tứ tri”. Gã Tây mất dạy kia tuy không phải là nhà “Việt học” nhưng tham lam đến mắm tôm cũng nuốt được thì đương nhiên phải hiểu cái sự “bốn biết”. Giao thừa năm ấy, gã ngấm ngầm để ngỏ cửa sau, dịu dàng đón quà biếu trên mức tình cảm.
Ở những ngày Tết, đàn ông Việt hay trong trắng và thong thả, tất nhiên họ thường nhớ đến những người có ân, những người mà họ trân trọng. Chân thành sửa chút lễ mọn kính cẩn đến thăm. Người nhận thanh thản, người đưa trong sáng. Lễ vật thường được gia chủ cẩn kính đặt lên bàn thờ gia tiên, vui mừng mà đốt một nén hương trầm nhận lễ. Gần đây, quà Tết đột nhiên bỗng khác. Nó thô lỗ ngụỵ trang bằng gói bánh túi kẹo rồi trong đó dung tục lèn đầy một phong bì. Gia chủ đàng hoàng trắng trợn cầm, sốt ruột xã giao dăm câu ba điều nhăm nhăm chỉ đợi khách về là lén lút chui vào toalét âm thầm mở bao thư. Tùy theo cái việc mà khách phải lụy, quà Tết phảng phất sắc diện khác nhau. Việc trọng thì có màu nõn nà xanh của đô-la Mỹ, của ơ-rô Tây Âu. Việc nhẹ thì có màu đậm đà cốm của tờ 500 nghìn tiền Việt. Có lẽ vì thế mà đàn ông đi Tết luôn có sắc mặt tương ứng với quà, cực kỳ phong phú.
Quà Tết do đàn ông chính tay đưa thường rất độc đáo và có lẽ độc đáo nhất là món quà được mô tả chi tiết trong truyện “Xuất giá tòng phu”. Một công chức nhờ nhỡ hăng say phấn đấu tiến, thăng hoa nghĩ ra cách đem vợ mình đi biếu sếp vào chiều 30 giao thừa năm cũ. Vợ bướng không nghe, bị chồng tự hào gia trưởng tẩn cho nhừ đòn. Cuối cùng đành chịu “Nước mắt chạy quanh, bà bước chân ra gần đến cửa, quay lại rít lên nói: Thiếu gì cách lễ, Tết mà cậu phải làm tôi nhục nhã thế này”. (Tuyển tập Nguyễn Công Hoan – NXB Văn học – trang 222). Ngày nay văn minh, kiểu biếu man rợ này đã bị thất truyền, chỉ đọng lại một tiếc nuối nhoi nhói hoài cổ trong khát khao đáy lòng của những đàn ông đang ôm mộng công hầu.
Gạt đi những vết lem nhem, thì mùa Xuân bao giờ cũng là mùa sạch. Đàn ông tử tế là những người sạch nhất, họ vẫn trân trọng giữ nét văn hóa đi Tết. Có điều, trước khi đi họ thường uống một chút rượu rồi chỉ cầm theo một tấm lòng thành.
TRẦN KHÔI VIỆT