38 năm kể từ Đại thắng mùa Xuân 1975, chiến tranh đã là quá khứ. Nhưng, với nhiều nhà văn thuộc thế hệ chống Pháp, chống Mỹ thì chiến tranh vẫn luôn hiện diện trong ký ức của họ, như một đề tài, một món nợ văn chương không khi nào thôi trăn trở. Chúng tôi đã ghi lại ý kiến chân tình, thẳng thắn quanh chủ đề này của một số nhà văn ở TP Hồ Chí Minh, những người đã trực tiếp trải nghiệm chiến tranh và có những tác phẩm viết về chiến tranh rất thành công.
Nhà văn Thanh Giang từng nói về món nợ văn chương với đề tài chiến tranh: “Một thời thâm nhập các chiến trường bằng đôi chân cuốc bộ sưng vù trong dép râu, từng đẫm mồ hôi và máu trên những nẻo đường lừng danh trong kháng chiến như Mã Đà, Bà Rá, Bến Cát, Củ Chi, rừng Bò Húc, đồng Chó Ngáp, lộ Bạc Đầu... Một thời không tiếc tuổi xanh, sống hết mình, viết hết mình vì sự nghiệp lớn, viết dưới làn bom đạn… Bây giờ, hạnh phúc thay được viết dưới ánh đèn điện hòa bình. Chúng tôi hằng trăn trở sống và viết sao cho xứng đáng với tầm cỡ hiện thực, xứng đáng với đồng bào, đồng chí, đồng nghiệp đã đổ máu hy sinh”.
Nhiều đồng nghiệp của Thanh Giang cũng không thôi trăn trở về đề tài chiến tranh, với những gì mình đã viết, đã tạo được thành công và cả sự đổi mới trong tương lai.
Nhà văn Nguyễn Quang Sáng:
Những năm đầu giải phóng, tôi vẫn viết theo “luồng” tâm thế của người chiến thắng. Tiểu thuyết đầu tiên là “Mùa gió chướng” (1975), rồi sau đó là những truyện như “Cánh đồng hoang”. Vài năm sau, hai tác phẩm này được chuyển thành kịch bản phim. Đó cũng là hai phim về chiến tranh của Việt Nam khá thành công cả về nghệ thuật lẫn tính tư tưởng. Có một chi tiết trong phim gây sốc: Hai vợ chồng người du kích, vì muốn giữ bí mật đường dây giao liên nên đã bỏ đứa bé vào bao, rồi dìm xuống nước… Thực tế chiến tranh gai góc, bi kịch lắm. Như chuyện một người mẹ đã ép mũi con mình vào ngực để bé không khóc, cứu mấy chục đồng chí đang ẩn nấp. Vì ép quá lâu, đứa bé đã ngộp thở, chết trong lòng người mẹ. Sau đó chị đã bị điên… Nếu viết về chiến tranh mà bỏ qua những bi kịch ở hai chiến tuyến như thực tế thì vẫn chưa phải là viết về chiến tranh. Có điều, không nên chỉ viết bi kịch mất mát, mà phải lý giải những gì đã xảy ra.
Nhà văn Lê Văn Thảo:
Sau ngày 30-4-1975, chúng tôi tiếp tục viết về cuộc chiến, về người lính, về sự đoàn tụ gia đình. Tuy nhân vật có hoàn cảnh riêng, số phận riêng, nhưng cơ bản vẫn là chính nghĩa thắng phi nghĩa, ta thắng - địch thua... Không thể nói chúng tôi viết không chân thật, lúc đó phân định rạch ròi địch - ta, kẻ thù trước mắt cần phải chiến thắng.
Hòa bình trở lại, đề cập đến đề tài chiến tranh sẽ khó viết hơn. Bởi lúc này, kẻ địch không còn nữa, mỗi người trở lại với cuộc sống thường ngày, sự gai góc diễn ra ngay trong gia đình, thậm chí trong từng con người. Có độ lùi xa, tôi có thời gian ngẫm nghĩ về số phận con người trong sự va chạm nhiều mặt của nó. Nếu như trong trận mạc, tôi thường viết về tình đồng đội thì khi hòa bình tôi chú ý nhiều hơn đến chủ đề hòa giải. Sau năm 1975, tôi có viết 3 cuốn tiểu thuyết về chiến tranh. Năm 2012 tôi có một cuốn tiểu thuyết và một truyện vừa về đề tài này. Hiện thì chưa có ý định viết tiếp và chắc không đủ sức. Viết như cũ thì không được rồi, nhưng đổi mới thì cần phải bao quát hơn, rộng lớn hơn.
Nhà thơ Lam Giang:
Tôi đã viết ngay sau ngày giải phóng bút ký “Vào cửa Tây thành phố”. Một số tác phẩm khác của tôi trong giai đoạn từ 1975 - 2004 vẫn luôn ở tâm thế của người chiến thắng như “Những tiếng nổ rung chuyển Sài Gòn” (1984); “Dấu chân qua đường phố” (1988); “Trên con đường không cột số” (1999); “Người con đất thép” (2004). Khai thác đề tài chiến tranh bây giờ là ở những chiều kích khác của cuộc chiến mà trước đây ta chưa chạm đến, vì nhiều lý do.
Nhà văn Thanh Giang:
Giải phóng miền Nam, với một người con quê hương Bến Tre như tôi, niềm vui nhân lên gấp ngàn lần. Tôi viết nhiều tác phẩm về chiến tranh. Nhưng thật sự là có những tác phẩm tôi chưa hài lòng, vì có nhiều điều muốn mà chưa viết. Giờ đây, tư duy viết về chiến tranh đã có nhiều đổi mới, không ít tác phẩm đã xộc thẳng vào bi kịch, không né tránh. Tuy nhiên, như thế không phải là không có những vấn đề phải thận trọng. Ví như với nhân vật phản diện, nếu viết một cách “thật thà” quá, không thoát được lên tầm khái quát thì dễ trở thành chuyện cá nhân, có khi ám ảnh những người thân của nhân vật còn đang sống.
Nhà văn Văn Lê:
Hòa bình đi liền với hai chữ “được sống”. Niềm vui sau giải phóng nên tác phẩm viết ra lấp lánh hào quang. Với tâm thế chung ấy, khó có thể viết khác đi. Khi “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh ra đời, rồi sau đó được giải thưởng văn học, dù chưa phải là viết sâu về mặt trái của chiến tranh nhưng cũng làm dấy lên dư luận trong giới phê bình văn chương. Viết về chiến tranh không chỉ là chiến thắng. Hãy nhìn chiến tranh đúng với bản chất của nó và viết bằng sự nhạy bén, bằng tài năng và tâm huyết của nhà văn.
Theo HNM