Tết Nguyên đán là Tết đầu tiên mở đầu của một năm, đánh dấu thời khắc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới, là lúc khép lại những việc đã trải qua trong năm cũ và chờ đón những điều tốt đẹp trong năm mới.
Tết Nguyên đán bắt đầu từ ngày 23 tháng Chạp trong năm cũ và kết thúc vào ngày mồng 7 tháng Giêng của năm mới với nhiều nghi lễ phong tục. Trong cung đình xưa, mỗi khi Tết đến, mọi công việc đều tạm ngưng để dành cho việc tế tự tổ tiên cùng các vị thần, nghỉ ngơi, sum họp, thăm hỏi chúc tụng người thân và mong ước hy vọng về những điều may mắn, tốt đẹp...
Có thể nói, Tết Nguyên đán là một trong những lễ tiết có nhiều phong tục độc đáo và mang đậm dấu ấn văn hóa bản địa của người Việt trên khắp lãnh thổ Việt Nam. Đặc biệt, tại mảnh đất Kinh kỳ nghìn năm văn hiến, văn hóa Tết Nguyên đán lại càng phong phú và đặc sắc, bởi nơi đây là sự hội tụ và giao thoa giữa nền văn hóa cung đình và văn hóa dân gian truyền thống.
Thời xưa, nhà vua và triều đình là người đại diện cho muôn dân, đại diện cho sự hưng thịnh, vững bền của quốc gia. Do đó, đã hình thành nên một hệ thống các nghi lễ Tết cung đình vừa trang trọng, tôn nghiêm, biểu thị quyền uy tối cao của bậc thiên tử.
Vào thời Lê Trung hưng, hệ thống nghi lễ Tết cung đình bao gồm một chuỗi các nghi lễ diễn ra nối tiếp nhau từ cuối tháng Chạp của năm cũ đến mồng 7 tháng Giêng năm mới gồm các nghi lễ: Cúng táo quân, tiến lịch, tiến xuân ngưu (rước trâu đất và thần Câu mang), phất thức (lau rửa và niêm phong ấn), cáp hưởng (mời các vị tiên đế về ăn tết), lthướng tiêu (dựng cây nêu), trừ tịch (cúng giao thừa), tế tổ tiên, Chính đán, chúc thọ nhà vua, tế giao (tế trời), khai hạ (hạ cây nêu), khai ấn (mở ấn)... Trong đó, các nghi lễ: Tiến Lịch, Tiến Xuân ngưu, Dựng nêu, Chính đán là bốn nghi lễ quan trọng nhất trong dịp lễ tết Nguyên đán.
Lễ Tiến lịch: Trong các triều đại phong kiến, vua coi mình là thiên tử, là người nối giữa trời và dân nên phải có trách nhiệm làm lịch báo cho dân biết thời gian, thời tiết để làm nông vụ, tế lễ và ổn định đời sống. Thời Lý đã cho dựng lầu Chính Dương làm nơi trông coi tính toán giờ khắc, soạn lịch Thụ Thời. Thời Trần thành lập cơ quan chuyên trách Thái Sử cục và soạn lịch Hiệp kỷ. Thời Lê thành lập Tư Thiên Giám, tiến hành biên soạn các bộ Khâm thụ lịch, Bác trúng kinh... Khi hoàn tất bản thảo và mẫu lịch, Tư Thiên giám đem trình lên vua. Sau khi được vua duyệt, Tư Thiên giám tiến hành làm các loại lịch phục vụ triều đình. Ngự lịch được làm duy nhất một cuốn dâng lên vua; Long phụng lịch để thờ tại Thái miếu, Chí Kính điện, Chính Cung miếu. Quan lịch dùng để ban cho các công hầu bá, văn võ bá quan từ cấp trung ương đến địa phương và Dân lịch ban phát xuống các làng xã. Đầu tháng 12 chọn ngày giờ tốt tiến hành đóng ấn lên lịch. Ngày 24 tháng Chạp, triều đình tổ chức nghi lễ Tiến lịch trang trọng tại sân Rồng điện Kính Thiên.
 |
| Lễ dựng cây nêu ngày Tết được thực hiện tại Hoàng thành Thăng Long. Ảnh: Hoàng thành Thăng Long |
Lễ thướng tiêu (dựng cây nêu): Được ghi chép lại từ thời Lê Trung hưng. Tư liệu cho biết, vào ngày 30 tháng Chạp, cây nêu được dựng ở trong cung vua, phủ chúa, dinh thự của các quan lại trước rồi mới đến cây nêu của các nhà dân được dựng lên sau. Ngọn cây được treo một chiếc phướn dài. Trên ngọn còn có một vòng tròn nhỏ, được treo những chiếc khánh đất, hay linh vật để khi gió thổi, va đập vào nhau kêu leng keng trong gió với ý nghĩa để trừ ma quỷ, mong ước một mùa xuân tươi vui, cả năm an lành, mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi. Những vật được treo trên cây nêu có thể khác nhau, tùy thuộc vào văn hóa của từng vùng miền. Sau các nghi thức tế lễ trời đất, cây nêu được dựng lên trong niềm vui hân hoan của mọi người, báo hiệu chính thức thời khắc tết đến xuân về.
Nghi lễ Thả cá Chép tiễn ông Công ông Táo về trời: Nghi lễ thả cá chép vào ngày ông Công ông Táo là một phong tục truyền thống của người Việt Nam, thể hiện lòng thành kính với các Táo quân. Vào ngày 23 tháng Chạp Âm lịch hàng năm, trong cung đình cũng như các gia đình thực hiện nghi lễ cúng tiễn ông Công, ông Táo về trời, cầu mong sự bình an, thịnh vượng cho quốc gia và gia đình vào năm mới. Trong văn hóa dân gian Việt Nam, cá chép gắn liền với một truyền thuyết nổi tiếng về việc hóa rồng. Cá chép trở thành biểu tượng cho sự kiên trì, bền bỉ, may mắn với ý chí, sức mạnh và sự thành công.
 |
| Nghi lễ Thả cá Chép. |
 |
| Tái hiện lễ đổi gác. |
Lễ đổi gác: Việc Canh gác và bảo vệ cung thành được các triều đại phong kiến tổ chức vô cùng nghiêm ngặt, Đổi gác là một nghi thức quan trọng diễn ra hàng ngày trong cấm thành Thăng Long và triều Đại nhà Lê cũng không ngoại lệ. Ra vào cung phải có sắc chỉ của Vua mới được ra vào cửa cấm. Nếu có lệnh truyền triệu viên quan nào, ban ngày thì dùng bài ngà, cờ lệnh, ban đêm dùng hổ phù, cờ lệnh, lúc ấy quân hộ vệ mới được mở cửa thành. Để đảm bảo nhiệm vụ canh giữ, luật quy định binh lính phải đến đúng giờ, đúng quân số và chuẩn bị đầy đủ các công cụ hỗ trợ.