QĐND - Nếu hỏi người Việt Nam về nhân vật Cao Lỗ phần lớn sẽ nhận được câu trả lời chung chung, đại ý: Cao Lỗ là danh tướng dưới thời Thục phán An Dương Vương và là người chế ra nỏ thần có khả năng tiêu diệt vạn quân giặc. Song, chắc nhiều người còn chưa rõ về mộ và nơi thờ tự của ngài hiện nay và quan trọng hơn là sức sống linh thiêng của ngài trong tâm thức của nhiều người dân quê hương vị danh tướng Cao Lỗ.

Theo các tài liệu lịch sử, Cao Lỗ quê ở làng Đại Than, châu Vũ Ninh (nay là xã Cao Đức, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh). Khi An Dương Vương dựng nước Âu Lạc gặp nhiều khó khăn nên đã ra sức cầu người hiền tài. Cao Lỗ đi theo Thục phán và đã lập được nhiều công trạng. Chính ông là người lặn lội đi khắp đất nước để tìm chỗ định đô và đã chọn được vùng đất Cổ Loa. Nhà vua tin tưởng giao cho ông chỉ huy quân đội và đắp lũy xây thành.

Thành Cổ Loa xây xong, ông lại được vua giao cho chế nỏ thần. Công dụng của nỏ thần đã được ghi lại trong Việt sử lược: “Lúc đó An Dương Vương có người thần tên là Cao Lỗ, chế được nỏ liễu, mỗi lần giương cung bắn ra được mười mũi tên”. Nhờ có nỏ thần mà Âu Lạc giữ vững được độc lập như sách Lĩnh Nam chích quái chép: “Cứ đem nỏ thần chĩa vào giặc là chúng không dám đến gần”. Tuy nhiên, do quỷ kế của Triệu Đà mà quân Âu Lạc thua trận và tướng Cao Lỗ bị thương và mất chính tại quê hương ông ở làng Đại Than.

Đền thờ Cao Lỗ Vương.

Ở nước ta có rất nhiều đền thờ Cao Lỗ Vương, nhưng các nhà nghiên cứu khẳng định đền thờ Cao Lỗ Vương ở xã Cao Đức, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh được xem là đền thờ chính, là nơi có thần phả tướng Cao Lỗ do Đông Các Đại học sĩ Hàn lâm Viện Nguyễn Bính soạn năm Hồng Phúc thứ nhất 1572 dưới thời vua Lê Anh Tông. Ngay gần đó là mộ Cao Lỗ Vương (xã Vạn Ninh, huyện Gia Bình) được người dân quanh năm hương khói. Các đời vua đều có sắc phong cho người được thờ, hiện nay còn lưu lại được 22 đạo sắc phong. Năm 2006, đền thờ Cao Lỗ Vương đã được công nhận là Di tích Lịch sử Quốc gia.

Theo tục truyền, hằng năm cứ đến ngày mồng 10-3 âm lịch nhân dân 8 làng thôn vùng Đại Than cùng thờ Cao Lỗ Vương tổ chức lễ hội. Ngay từ sáng mồng 9, đền Cao Lỗ Vương đã mở cửa để đại diện các làng làm lễ mộc dục (lau chùi ngai thờ và thay phẩm phục mới cho tượng thần). Sau lễ mộc dục ở đền, các làng rước lễ vật ra lăng mộ Cao Lỗ Vương làm lễ xin phép được mở hội.

Sáng mồng 10, các làng đồng loạt tổ chức rước kiệu, long đình từ làng mình vào đến đền, theo thứ tự lần lượt vào đền tế lễ Cao Lỗ Vương, rồi xin rước bài vị của ngài về làng mình để tế lễ mở hội. Đám rước kiệu thánh của tám làng rợp trời với cờ quạt, long, kiệu, siêu đao, bát bửu và tưng bừng âm thanh trống, chiêng, đàn, sáo, nhị, cùng hàng nghìn người tham dự. Trong những ngày lễ hội của các làng thờ Cao Lỗ Vương, sau phần lễ là phần hội với nhiều tục trò diễn lại sự tích của Cao Lỗ Vương như: Thôn Đại Trung có trò “múa mo múa mộc” tượng trưng cho Cao Lỗ Vương khi đánh giặc; thôn Tiểu Than có trò “múa bong đánh bệt” diễn lại sự tích Cao Lỗ Vương được mãnh hổ mang xác về quê hương để nhân dân biết mà chôn cất; riêng tục “võ vật” thì thôn nào cũng có bởi vùng Đại Than xưa là đất thượng võ; đồng thời còn rất nhiều hoạt động văn hóa văn nghệ dân gian vui tươi lành mạnh mang đậm bản sắc quê hương, dân tộc.

Trao đổi với chúng tôi, ông Trần Văn Dưỡng, Chủ tịch xã Cao Đức, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh cho biết: "Về cơ bản, nửa tháng trước lễ hội diễn ra, công việc chuẩn bị đã hoàn thành. Điểm mới của lễ hội năm nay kỷ niệm 2290 năm mất của Cao Lỗ Vương sẽ do huyện Gia Bình đứng ra tổ chức nên về quy mô lớn hơn với nhiều hoạt động văn hóa văn nghệ, và sẽ tổ chức trong hai ngày, so với cấp xã chỉ một ngày như trước". Lễ hội sẽ được đánh dấu bằng việc tổ chức Giải Vô địch vật tự do, vật cổ điển tỉnh Bắc Ninh năm 2013 vào ngày mồng 8-3 âm lịch (tức ngày 17-4).

Về lâu dài, do đã nhận thức giá trị tâm linh to lớn của đền thờ Cao Lỗ Vương, UBND tỉnh Bắc Ninh có quy hoạch chi tiết khu di tích lịch sử và du lịch văn hóa Cao Lỗ Vương. Dải đất ven sông Đuống từ cầu Hồ đến xã Cao Đức có bốn di tích đặc trưng về văn hóa là đền Thái sư Lê Văn Thịnh; vườn vải Lệ chi viên; chùa Đại bi và đền thờ cùng mộ Cao Lỗ Vương. Những di tích này đều có liên quan đến những nhân vật lớn của thời kỳ dựng nước và giai đoạn đầu chế độ phong kiến. Mặt khác, cảnh quan ven sông Đuống còn nguyên vẹn, đặc trưng cho nông thôn đồng bằng Bắc Bộ; cơ cấu làng xã chưa bị phá vỡ và tâm thế con người còn nhiều nét thuần hậu của nông dân. Đó là những lý do để trong tương lai du lịch là một trong những hướng phát triển quan trọng của địa phương.

Bài và ảnh: TRẦN HOÀNG HOÀNG