QĐND - Khoảng 5 năm trước khi mất, tự dưng ông Đa mắc một chứng rất lạ. Cứ vào sáng chủ nhật hằng tuần, ông Đa dậy sớm. Ông dậy từ 5 giờ sáng, mở cửa, bật đèn, vặn to ti vi lên và đem bày la liệt khắp nhà đồ chơi trẻ con. Những người hàng xóm vào hôm đó lại thì thầm to nhỏ: "Có ngày chủ nhật mới thấy mặt ông ấy". Đúng, những ngày khác có ai thấy mặt ông Đa bao giờ đâu. Chứng là lạ ấy ban đầu làm hàng xóm đặt nhiều câu hỏi sau dần quen không ai bàn tán nữa. Ông Đa dậy sớm, mở cửa để đón những đứa cháu nội, cháu ngoại về chơi thăm ông. Hôm chủ nhật nào bọn trẻ về, ông Đa vui ra mặt, ông không tiếc gần như bất cứ yêu cầu gì của lũ nhỏ. Đến chiều tối, bố mẹ lũ trẻ đưa con về lại nhà mình, ông Đa lại cặm cụi dọn dẹp. Khổ nhất là tuần nào không có một đứa cháu nào về thăm ông. Những hôm như thế, ông Đa đứng ngẩn người giữa đám đồ chơi, nét mặt ông lo toan, căng thẳng. Ông nhấc máy điện thoại lên gọi đến từng nhà của mỗi người con để hỏi xem bọn trẻ ốm đau hay bố mẹ chúng mắc công việc gì. Dù biết rõ nguyên nhân nhưng ông Đa vẫn bồn chồn. Tối ấy ông lủi thủi thu dọn những thứ đã bày ra ấy, dẹp vào góc nhà.

Ông Đa đã qua cái tuổi bảy mươi. Hồi trẻ chắc ông đẹp trai lắm, bằng chứng là trên gương mặt ông vẫn biểu lộ những nét rất đàn ông. Bằng chứng là những người cùng công tác với ông ở Viện Q đều nhắc lại về một kỹ sư, trưởng phòng năng lực giỏi và trông cứ như "Cha Ran" trong phim chiếu trên ti vi có cái tên rất hay là "Tiếng chim hót trong bụi mận gai". Đó là một người đàn ông được các cô, các em trong Viện Q đều nhìn theo ngưỡng mộ. Nghe đâu nữ kỹ sư tên Thanh, đẹp đài các, tuổi bốn mươi lại chưa lấy chồng vì mải chuyện học hành và ông mê nhau lắm. Nữ kỹ sư Thanh và ông Đa thích nhau lại được mọi người trong Viện ngầm ủng hộ. Nói phủi phui cái mồm chứ mọi người đoán định khi bà vợ ốm yếu liên miên của ông Đa qua đời thì đó chắc là một đôi trời định.

Ông Đa sống trong một ngôi nhà bốn tầng được xây cất chắc chắn trên mặt bằng 50 mét vuông. Ở một vị trí sát nội thành mà có được căn nhà như thế quả là ao ước của nhiều người. Ngôi nhà xây dựng từ khi ông Đa còn công tác. Gần hai mươi năm ông sống trong căn nhà đó, sống với hàng xóm ở đó rất thuận hòa. Tính tình vui vẻ, chỉ đôi khi ông hay phân tích hoặc giảng giải điều gì đó. Không phải là ông tỏ rõ sự hơn người mà chính là thói quen từ hồi chưa nghỉ hưu ông Đa hay phải như vậy. Là trưởng phòng tổ chức - hành chính, ai mà không như vậy. Không phân tích hay giảng giải chắc gì người ta đã hiểu ngay được, nhất là những việc liên quan đến công ăn việc làm. Liên quan đến chế độ chính sách.

Bà vợ hay đau yếu của ông Đa qua đời năm ông Đa vừa bước sang tuổi năm mươi nhăm. Hôm đưa đám vợ ông, nữ kỹ sư Thanh thỉnh thoảng liếc nhìn ông ái ngại trông dáng người như sụp hẳn xuống của ông đang phơi chang chang giữa cái nắng tháng 7. Mọi người đều tỏ thái độ cầu mong cho chuyện giữa ông Đa và nữ kỹ sư Thanh đến hồi có hậu. Vậy mà không hiểu sao sau đó mấy tháng nữ kỹ sư Thanh không làm ở Hà Nội nữa, cô chuyển vào miền Nam.

Sau giỗ đầu bà vợ ông Đa có những cuộc họp quan trọng diễn ra trong căn nhà của ông. Phía anh em nhà ông Đa họp với tư cách bên nhà trai cùng thống nhất ông Đa phải đi bước nữa. Lý do đơn giản là: Ông Đa còn phong độ và ở vào tuổi đó mà thiếu bàn tay phụ nữ thì không ổn. Hơn nữa, các con ông đã lớn rồi chúng sẽ lấy chồng, lấy vợ ai sẽ chăm sóc ông khi ông về già. Ông Đa nghe phân tích lấy làm xiêu xiêu, các con ông - ơn trời là chúng đồng ý. Phía gia đình nhà vợ ông Đa với tư cách là bên nhà gái cũng đồng tình ông Đa nên tái giá.

Nhưng.....

Ở đời giá như không có chữ "nếu" hay chữ "nhưng" thì chắc sẽ không có chuyện gì để bàn luận. Ông Đa về hưu khi cái chuyện đi bước nữa chưa thành. Ai hỏi thì ông cười hồn nhiên: "Đợi lo chuyện dựng vợ gả chồng cho ba đứa con chu đáo đã". Ông nghĩ thế là thấu đáo, thường thì cha mẹ lo cho con cái ấm êm rồi mới lo đến phận mình. Cái lý lẽ ấy được mọi người cảm thông.

Nghe đâu nữ kỹ sư Thanh tuy vào miền Nam công tác nhưng vẫn chờ đợi tín hiệu của ông Đa gửi vào. Cô không đả động đến bất cứ mối lái nào khác. Những mối tình cao cả là mối tình biết hy sinh, chờ đợi. Cô Thanh đợi ông Đa dựng vợ, gả chồng cho con thật là cao thượng.

Những đứa con của ông Đa cuối cùng cũng đã có nơi, có chốn. Ban đầu chúng còn ở chung với bố và những đứa cháu ra đời làm căn nhà vốn thiếu vắng bóng phụ nữ bỗng trở nên sinh động. Ông Đa vui lắm, công việc của ông là khi những đứa cháu đi học mẫu giáo, rồi lên tiểu học đều do một tay ông đưa đón. Buổi sáng ông đem chiếc xe máy cũ ra trước cửa, đạp khởi động và nhấc từng đứa cháu lên yên xe. Ông đưa chúng đi học, chiều về ông lượn một vòng qua các lớp đón từng đứa.

Sau bữa cơm tối phải hò hét, dỗ dành lũ trẻ, nhà nào lại về phòng nhà nấy. Nghĩa là trên bộ bàn ghế uống nước kê ở tầng một chỉ còn lại mình ông Đa ngồi nhâm nhi chén trà nguội ngắt. Ông tự an ủi, vợ chồng con cái chúng nó cũng phải có góc riêng của mình chứ. Ông ngồi uống nước một mình nhưng cũng phải về phòng mình sớm để chị giúp việc được nghỉ sau một ngày tất tả cơm nước, giặt giũ cho đại gia đình. Chị được bố trí ngủ ở tầng một, giường kê gần cầu thang, ông Đa lên phòng mình để tránh phải nhìn chị giúp việc mệt bã người lăn ra ngủ rất sơ ý.

Những cuộc họp lại diễn ra, lần này thì cương quyết hơn. Nhất là khi các con ông Đa ra ở riêng. Con cái ăn nên làm ra, có nhà riêng thì mừng quá, giữ chúng bên mình làm khó cho chúng. Lần này phía bên nhà vợ ông Đa nói thẳng luôn: "Bác Đa đi bước nữa là phải. Nhưng bác lấy ai thì không được". Phía bên nhà anh em ông Đa gặng hỏi: "Thế nào là lấy ai thì không được. Chuyện vợ của bác Đa để bác Đa tự quyết". Phía bên nhà vợ ông Đa nói chắc như đóng gạch: "Bác Đa phải lấy dì Loan". Phía bên anh em ông Đa liền phản bác lại: "Tại sao phải lấy dì Loan. Lấy ai do bác Đa chọn, bác ấy lấy vợ chứ phải các ông các bà lấy vợ đâu". Bên nhà vợ ông Đa cương quyết: "Chỉ lấy dì Loan thôi". Bên anh em ông Đa nói cùn: "Ông mà lấy dì Loan thì họ nhà này... từ ông".

Dì Loan là em gái út vợ ông Đa. Một người đàn bà quá lứa, xấu cả tính lẫn nết. Nhưng cái chính là nghe đâu thời gia đình ông Đa còn ở quê, phải nương nhờ nhà vợ, chính dì Loan nhiều lần chì chiết nói này nói nọ gia đình nhà ông Đa nghèo hèn. Chuyện xưa ở quê nhưng anh em nhà ông Đa căm mãi. Đấy là cái cớ phía anh em nhà ông Đa phản đối. Nhưng ác nỗi, các con ông Đa lại đồng tình, chúng cũng khuyên bố nên đón dì Loan về chung sống. Chúng viện câu người xưa: "Chết mẹ còn dì" để nghiêng về dì Loan.

Ông Đa không tự quyết được, có thể ông là người thiếu bản lĩnh, có thể ông là người quen nhịn. Ông sống một mình trong ngôi nhà bốn tầng, rộng rãi, vắng vẻ và ít khi ra ngoài kể từ lúc mấy đứa con của ông ra ở riêng.

Sáng chủ nhật vừa rồi, hàng xóm không thấy ông Đa mở cửa, bày biện đồ chơi chờ con cháu. Tầm trưa, mấy đứa con ông mới đưa lũ trẻ về chơi. Chúng gọi mãi không thấy ông thưa, phải phá cửa vào nhà. Ông Đa nằm cứng queo trên giường. Ông mất từ bao giờ không ai biết được.

Mãi lúc đưa ông về quê chúng mới sụt sùi khóc: "Bố cho chúng con xin lỗi". Anh chị em nhà ông Đa, anh chị em nhà vợ ông Đa nhìn nhau ngường ngượng.

 Truyện ngắn của NGUYỄN TRỌNG VĂN