1. Nói đội hình tác giả viết tiểu thuyết đang hùng hậu bởi có sự kế tiếp các thế hệ nhà văn, từ thế hệ cao tuổi như: Ma Văn Kháng, Nguyễn Thế Quang, Nguyễn Đắc Như, Hà Phạm Phú, Hà Đình Cẩn, Chu Lai, Nguyễn Mạnh Tuấn, Nguyễn Trọng Tân, Trần Văn Tuấn...; trẻ hơn một chút nhưng cũng đã ngoài “thất thập cổ lai hy” là: Vĩnh Quyền, Phạm Quang Long, Đoàn Tuấn, Mai Tiến Nghị, Nguyễn Trí, Đoàn Hữu Nam, Đào Quốc Vịnh, Bùi Thanh Minh, Nguyễn Như Phong, Nguyễn Trường...; tiếp đó là đội ngũ sinh vào thập niên 1960 như: Hồ Anh Thái, Nguyễn Một, Nguyễn Việt Hà, Thùy Dương, Võ Thị Xuân Hà, Bích Ngân, Trầm Hương...; đông đảo hơn cả là thế hệ trưởng thành sau dấu mốc đổi mới: Thiên Sơn, Nguyễn Thế Hùng, Nguyễn Đình Tú, Đỗ Bích Thúy, Phong Điệp, Di Li, Đỗ Tiến Thụy, Võ Diệu Thanh, Tống Ngọc Hân, Nguyễn Xuân Thủy, Phùng Văn Khai, Kiều Bích Hậu, Dương Bình Nguyên, Đinh Phương, Thương Hà, Chu Thanh Hương, Meggie Phạm, Viên Kiều Nga, Đức Anh...

Trao giải nhì (không có giải nhất) Cuộc thi sáng tác tiểu thuyết Thời báo Văn học nghệ thuật lần thứ I (2023-2025), tháng 10-2025. Ảnh: HUYỀN THƯƠNG

Ngoài ra, tiểu thuyết Việt Nam còn trở nên phong phú, đa dạng với tên tuổi của các tác giả người Việt Nam định cư ở nước ngoài viết văn bằng tiếng Việt và xuất bản tác phẩm tại Việt Nam là: Nguyễn Đức Tùng với “Thuyền”; Thuận với “Paris 11 tháng tám”, “T mất tích”, “Vân Vy”, “Thư gửi Mina”, “Sậy”...; Lê Minh Hà với “Phố vẫn gió”, “Gió từ thời khuất mặt”; Đoàn Minh Phượng với “Và khi tro bụi”, “Tiếng Kiều đồng vọng”, “Đốt cỏ ngày đồng”; Lê Ngọc Mai với “Tìm trong nỗi nhớ”, “Trên đỉnh dốc”...

Nếu xem xét tiểu thuyết trong 10 năm trở lại đây, đề tài lịch sử, nhất là đề tài LLVT và chiến tranh cách mạng trong tiểu thuyết trở lại mạnh mẽ là xu hướng rất đáng chú ý. Vì sao có sự trở lại ngoạn mục này? Trước hết có thể giải thích hiện trạng này bằng những lý do ngoài văn chương. Chúng ta đang và sẽ đối diện với nhiều vấn đề khó khăn, phức tạp.

Nhiều vấn đề chỉ có thể tìm trong quá khứ, trong truyền thống văn hiến-văn hóa của một dân tộc “vốn xưng nền văn hiến đã lâu” (Nguyễn Trãi). Vì thế, “ôn cố tri tân” là một động lực tinh thần quan trọng cần nắm bắt kịp thời, hữu ích cho công cuộc bảo vệ chủ quyền và kiến quốc hiện nay.

Một số tiểu thuyết về đề tài truyền thống được bạn đọc đón chào nồng nhiệt như “Thị Lộ chính danh” của Võ Khắc Nghiêm, “Chim bằng và nghé hoa” của Bùi Việt Sỹ, “Kỷ nguyên của Nguyễn Trãi” của Trần Thị Thắng, “Phùng Vương” của Phùng Văn Khai, “Đường về Thăng Long” của Nguyễn Thế Quang, “Thư về quá khứ” của Nguyễn Trọng Tân, “Mưa đỏ” của Chu Lai, “Lời nguyện cầu cho những linh hồn phiêu dạt” của Đoàn Tuấn, “Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín” của Nguyễn Một, “Vầng trăng Him Lam” của Châu La Việt... Nhà văn Nguyễn Trọng Oánh, tác giả tiểu thuyết nổi tiếng “Đất trắng” từng chia sẻ: “Nói về quá khứ một cách nghiêm túc và trung thực thì không sợ không có điều gì để nói với hôm nay” ("Nhà văn Việt Nam hiện đại", Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2020).

Một số tác phẩm được trao giải tại Cuộc thi sáng tác tiểu thuyết Thời báo Văn học nghệ thuật lần thứ I (2023-2025). Ảnh: HUYỀN THƯƠNG

Nhà văn Chu Lai hào hứng tuyên bố: “Chiến tranh là một siêu đề tài. Người lính là một siêu nhân vật”. Những nhà văn trẻ thuộc thế hệ 7X, 8X vẫn say mê viết về lịch sử truyền thống và chiến tranh cách mạng. Vì sao? Câu trả lời không quá khó khăn với những ai yêu quý, trân trọng những trang sử vàng của dân tộc có truyền thống hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Tiểu thuyết “Mưa đỏ” (tái bản 80.000 cuốn) và bộ phim điện ảnh cùng tên (với doanh thu hơn 700 tỷ đồng) trong năm 2025 là một sự kiện văn hóa, văn học, một bằng chứng sinh động cho sức sống của tiểu thuyết về đề tài truyền thống.

2. Nếu tiểu thuyết về đề tài truyền thống, như đã nói ở trên, tạo ra “mặt tiền” của văn học thì những tác phẩm viết về đề tài đương đại (đời tư-thế sự, những vấn đề kinh tế, văn hóa, đạo đức...) chưa thật nổi trội. Tất nhiên, một số tác phẩm thành công ở những mức độ khác nhau phần nào đáp ứng được mong mỏi của độc giả như “Cuộc vuông tròn” của Nguyễn Bắc Sơn, “Thương ngàn” của Vĩnh Quyền, “Mùi rơm rạ” của Đào Quốc Vịnh, “Vùng xoáy” của Vũ Quốc Khánh, “Thật giả cũ mới” của Trần Văn Tuấn, “Quay đầu lại là bờ” của Hữu Phương, “Hạc hồng” của Lê Hoài Nam, “Hồi sinh” của Thùy Dương, “Đông trùng hạ thảo” của Mai Tiến Nghị, “Bụi đời thục nữ” của Nguyễn Trí, “Miền sáng tối” của Dương Thanh Biểu, “Rễ người” của Đoàn Hữu Nam, “Gia đình có bốn chị em gái” của Phạm Thị Bích Thủy, “Cuộc cờ” của Phạm Quang Long...

Vì sao một hiện thực đời sống ngồn ngộn chất liệu, đầy hấp lực mời gọi như thế nhưng chưa có cánh cửa nào mở ra ngõ hầu đi thẳng vào tiểu thuyết và tạo dấu ấn? Nếu so sánh với văn học 15 năm đầu sau đổi mới (1986-2001) sẽ thấy thời kỳ đó tiểu thuyết về đề tài đương đại làm chủ văn đàn. Ngày nay, hiện thực dường như ưu đãi nhà văn, dọn sẵn các cốt truyện, tình huống, sự kiện, nhân vật tiêu biểu. Có vẻ như chỉ cần nhà văn “chạm” đúng là tất cả bung nở, bộc lộ bản chất đến tận cùng. Nhưng nhà văn hiện đang bị phân thân, có tâm thế an toàn, tránh xa vùng nhạy cảm khi viết. Nhà văn dường như chưa đủ sức (tâm và tầm) để xông thẳng vào các "tâm bão" đời sống. Tác phẩm đôi khi chỉ mới như là đường viền của bức tranh. Trọng lực, trọng tâm của bức tranh xem ra còn chưa rõ đường nét.

Tâm thế của nhà văn khi viết, nhìn chung đều muốn “nhúng bút vào sự thật”. Nhưng vấn đề nhận chân sự thật lại không hề giản đơn. Sự thật nào cần được phản ánh, sự thật đó có lợi cho ai, nói ra sự thật trong văn cảnh nào, nói theo cách nào là những vấn đề cần đến căn cốt văn hóa của nhà văn. Hiện thực thì vạm vỡ, sức lực của nhà văn chúng ta hiện nay thì chưa cân sức, cân tài. Thậm chí có ý kiến cho rằng nhà văn hiện nay lạc hậu với đời sống có tính chất phi truyền thống. Đó chính là nguyên nhân căn bản khiến cho bộ phận văn học nói chung, tiểu thuyết nói riêng viết về “cái hôm nay” còn chưa thật sự cao, sâu nghệ thuật.

3. Nếu hiện trạng văn học nói chung, tiểu thuyết Việt Nam nói riêng chưa hòa nhập được vào văn học thế giới hiện đại thì nguyên nhân trước hết là vì chúng ta chưa chạm đến được “mẫu số chung” của nhân loại-vấn đề của con người muôn thuở, bởi vì “tận cùng của văn hóa là con người”. Giải Nobel văn học 2024 thuộc về nhà văn Hàn Quốc Han Kang với đặc sắc “Văn xuôi giàu chất thơ mãnh liệt khi đối diện với những tổn thương trong quá khứ và phơi bày sự mong manh của cuộc sống con người”.

Thiết nghĩ, cũng là một bài học nghệ thuật sát sườn, gần gũi với các nhà văn Việt Nam có khát vọng chạm tới đài vinh quang. Phải chăng văn học cần và phải thấu hiểu, thấu cảm tận chân tơ kẽ tóc trước “sự mong manh của cuộc sống con người” mới thể hiện đúng đắn sứ mệnh viết của nhà văn? Hiện nay, chúng ta đang “nhập siêu” văn học thế giới. Không ai ngăn cản niềm hy vọng thiêng liêng của chúng ta đến ngày có thể xuất khẩu văn học/tiểu thuyết như tuyệt phẩm “Truyện Kiều” (mà nhiều nhà nghiên cứu xem là tiểu thuyết bằng thơ) của Đại thi hào, Danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Du đã đạt tới.

Vấn đề nguồn nhân lực đang đặt ra như một trong các điểm nghẽn của phát triển bền vững. Hiện nay, Hội Nhà văn Việt Nam có khoảng 1.200 nhà văn đang sống và sáng tác trên khắp mọi miền đất nước. Ước tính trong tổng số đó có khoảng 400 cây bút viết văn xuôi. Nhưng hiếm hoi có một cây bút chỉ viết tiểu thuyết theo lối thâm canh tăng năng suất. Nhà văn bây giờ giống như con dao pha, cùng lúc làm nhiều việc, viết nhiều thể loại. Trong văn học cũng cần chuyên môn hóa vì “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, “một nghề thì chín, chín nghề thì chết”. Vì thế, nếu phát hiện ra những hạt giống nào có thể ươm vào khu vườn tiểu thuyết thì cần đón lấy cơ hội chăm sóc, vun trồng nó.

Sáng tạo văn học, nghệ thuật, trong đó có tiểu thuyết là công việc khổ ải, có tính chất cá thể hóa cao độ. Nhưng không thể không tính đến sinh quyển trong đó nó tồn tại. Vì thế vai trò của các cơ quan chức năng là phải cùng chung sức làm “bà đỡ” mát tay. Và quan trọng hơn cả là cần có một chính sách văn hóa đào tạo tài năng sáng tạo văn học, nghệ thuật thực tiễn, gây dựng nên “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” để ươm mầm tài năng.