QĐND - Jorge Luis Borges (1899-1986) được xem là một trong những nhà văn lớn nhất thế kỷ XX bởi đã giúp chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mỹ La-tinh được thế giới thừa nhận rộng rãi. Năm 1961, ông cùng với Samuel Beckett (giải Nobel Văn học 1969) nhận Giải thưởng các Nhà xuất bản Quốc tế. Quỹ Ingram Merrill Foundation trao tặng ông Phần thưởng Văn học hằng năm vào năm 1966 cho “sự đóng góp kiệt xuất với văn học” của ông. Năm 1971, Đại học Columbia (Mỹ) tặng ông bằng Tiến sĩ Văn chương danh dự, sau này ông còn nhận danh hiệu tương tự từ các trường đại học Anh là Oxford và Cambridge. Năm 1971, ông nhận được Giải thưởng Jerusalem (I-xra-en). Năm 1973, ông nhận được một trong những giải thưởng cao quý nhất về văn hóa của Mê-hi-cô là Alfonso Reyes Prize. Năm 1980, ông cùng với Geraldo Diego được trao giải thưởng Cervantes Prize là vinh dự cao quý nhất về văn học của thế giới nói tiếng Tây Ban Nha. Từ năm 1955 đến năm 1973, J. L. Borges là Giám đốc Thư viện Quốc gia của Ác-hen-ti-na.
***
Tôi là một người tiều phu. Tên tôi chẳng quan trọng. Căn lều nơi tôi sinh ra và ở đó tôi sắp chết, nằm ngay ở bìa rừng. Người ta bảo rằng, những rừng này tiếp diễn, tới tận biển cả bao quanh toàn thế giới; họ bảo rằng, những căn lều gỗ giống như của tôi phiêu bạt trên biển đó. Tôi chẳng biết; tôi chưa bao giờ thấy biển. Tôi cũng chẳng thấy phía bên kia của rừng nữa. Anh tôi, khi chúng tôi còn là những đứa bé con, đã bắt tôi phải thề là giữa hai đứa chúng tôi sẽ chặt cây trong rừng đến khi không còn thân nào đứng cả. Anh tôi bây giờ mất rồi, bây giờ tôi theo đuổi một thứ khác và vẫn luôn luôn theo hướng đó. Phía mặt trời lặn có một khe nước mà tôi dùng hai bàn tay để bắt cá. Trong rừng có sói, nhưng sói không làm tôi sợ và chiếc rìu của tôi chưa hề thất bại. Tôi không ghi nhớ mình bao nhiêu tuổi, nhưng tôi biết tôi đã già-mắt tôi đã lòa. Ở dưới làng, là nơi tôi không còn mạo hiểm xuống nữa bởi tôi sẽ lạc đường, ai cũng bảo rằng tôi là một kẻ hà tiện, nhưng một kẻ tiều phu thì có tiết kiệm được là bao?
Tôi chặn cánh cửa nhà bằng một tảng đá để tuyết không len vào. Một tối kia tôi nghe thấy những bước chân kéo lê, nặng nề rồi có tiếng gõ cửa. Tôi mở cửa và một kẻ lạ đi vào. Ông là một người luống tuổi, cao lớn và quấn trùm khắp mình bằng một tấm chăn đã cũ mèm. Một cái sẹo vắt ngang mặt ông. Năm tháng như thể đã ban cho ông quyền uy hơn là sự mong manh. Nhưng dù vậy tôi thấy ông bước khó khăn nếu không chống chiếc gậy. Chúng tôi trao đổi vài lời mà nay tôi không còn nhớ nữa. Rồi cuối cùng người đàn ông nói:
“Ta là kẻ không nhà và ta bạ đâu ngủ đấy. Ta đã lang thang khắp miền Saxony.”
Lời lẽ hợp với tuổi tác của ông. Cha tôi thường nói về “Saxony”; bây giờ người ta gọi nó là nước Ạnh.
Có bánh mì và một ít cá trong nhà. Trong lúc chúng tôi ăn, chúng tôi không nói chuyện. Trời bắt đầu đổ mưa. Tôi lấy mấy tấm da và trải một chỗ ngủ cho ông trên cái nền đất mà anh tôi đã mất ở đó. Đến đêm chúng tôi đi ngủ.
Khoảng tảng sáng chúng tôi rời nhà. Trận mưa đã ngừng và trên mặt đất có phủ lớp tuyết mới. Người đàn ông tuột mất cây gậy và sai tôi nhặt nó lên.
Tôi nói với ông: “Tại sao tôi phải làm điều ông bảo tôi?”
Ông đáp: “Vì ta là nhà vua”.
Tôi ngỡ ông ta điên. Tôi nhặt cây gậy lên và đưa cho ông.
Với những lời lẽ về sau, giọng ông đổi hẳn.
“Ta là vua của người Secgens. Nhiều lần ta đã dẫn họ tới chiến thắng trong chiến đấu cam go, nhưng đến giờ định mệnh phán, ta đã mất vương quốc. Tên ta là Isern và ta thuộc dòng giống thần Odin”.
Tôi trả lời: “Tôi không thờ Odin. Tôi thờ đức Kitô”.
Ông tiếp tục như thể không hề nghe tôi nói gì.
“Ta lang thang trên những con đường lưu vong, nhưng ta vẫn là nhà vua, bởi ta có chiếc đĩa. Anh có muốn xem nó không?”
Ông mở bàn tay và tôi thấy lòng tay xương xẩu của ông. Chẳng có gì trong đó. Bàn tay ông trống không. Chỉ tới lúc đó tôi mới ý thức rằng về trước tay ông vẫn nắm chặt.
Ông nhìn thẳng vào mắt tôi.
“Anh được chạm vào nó”.
Tôi hồ nghi, nhưng tôi vẫn giơ tay ra và với những đầu ngón tay tôi sờ vào lòng bàn tay ông. Tôi cảm nhận một cái gì lạnh và tôi thấy một ánh lóe mau. Bàn tay ông nắm lại ngay. Tôi không nói gì.
“Đó là cái đĩa của Odin,” ông già nói bằng một giọng kiên nhẫn, như thể đang nói với một đứa bé. “Nó chỉ có một phía. Trên thế gian này không có vật nào khác chỉ có một phía. Chừng nào ta còn giữ nó trong tay ta vẫn là vua”.
Tôi nói: “Nó bằng vàng à?”
“Ta chẳng biết. Nó là chiếc đĩa của Odin và nó chỉ có một phía”.
Lúc đó tôi cảm thấy một thôi thúc muốn chính mình có chiếc đĩa. Nếu nó là của tôi, tôi có thể bán nó lấy một thỏi vàng và rồi chính tôi sẽ là một ông vua.
“Trong lều tôi có một cái tủ chất đầy tiền đã che giấu. Những đồng tiền vàng và chúng sáng loáng như cái rìu của tôi đây,” tôi bảo kẻ lang thang ấy, người mà tôi hận cho đến ngày hôm nay. “Nếu ông cho tôi chiếc đĩa Odin, tôi sẽ cho ông cái tủ”.
Ông càu nhàu nói: “Ta quyết không”.
Tôi nói: “Vậy ông có thể tiếp tục lên đường”.
Ông quay ngoắt đi. Chỉ một nhát rìu vào sau sọ ông là xong; ông lảo đảo và gục xuống, nhưng trong lúc gục ông mở bàn tay và tôi thấy ánh lóe sáng của chiếc đĩa trên không. Tôi lấy chiếc rìu đánh dấu địa điểm và tôi lôi cái xác kia xuống lòng khe, chỗ tôi biết khe nước dềnh lên. Rồi tôi liệng cái xác xuống.
Khi tôi quay về nhà tôi kiếm chiếc đĩa. Nhưng tôi tìm không ra nó. Tôi vẫn kiếm nó trong bao năm.
Truyện ngắn của JORGE LUIS BORGES (Ác-hen-ti-na) NGUYỄN TIẾN VĂN dịch