“Có ạ, rất khang trang, hiện đại và hình như rất nhiều cửa sổ phải không bầm?”. “Đúng đấy con. Dân làng đã đếm rồi, cả cửa ra vào và cửa sổ, tổng cộng là 25 chiếc”. “Nhà của ai đấy hả bầm?”. “Của một ông lãnh đạo sở gì đó, bầm cũng không được rõ lắm”. “Nhưng so với những biệt thự sang trọng ở phố xá, căn nhà đó có thấm gì đâu hả bầm?”. “Ừ thì chả dám so với phố xá Hà Nội. Nhưng con biết đấy, làng quê mình đâu đã hết những cảnh đời chạy ăn từng bữa, dân làng thì quanh năm đầu tắt mặt tối, tắm nắng gội sương”…
Nói đến đây, giọng bầm chùng xuống: “Người ta giàu có, người ta có quyền được hưởng sung sướng, không nên ganh tỵ. Cái điều mà dân làng thắc mắc là, tại vị trí đắc địa ấy trước đây có một cây đa cổ thụ xum xuê cành lá, cạnh gốc cây có một quán bán nước vối cùng mấy thứ quà quê “bán cũng như cho” đã trở nên thân quen, gần gũi với mọi già trẻ, gái trai trong làng suốt mấy chục năm qua, nhưng chỉ sau một tuần bị san phẳng. Bây giờ nó biến mất, ai cũng cảm thấy ngậm ngùi”. “Sau khi giải phóng mặt bằng, bà cụ bán quán có được hỗ trợ gì không hả bầm?”. “Đâu được dăm bảy triệu gì đấy. Nhưng bà cụ một mực không nhận, mà đề nghị được chuyển số tiền ấy vào quỹ khuyến học của xã”. “Bầm có biết vì sao bà cụ lại không muốn nhận tiền hỗ trợ không?”. “Vì bà cụ không chồng, không con. Dù nghèo, không nơi nương tựa nhưng cụ bảo rằng, gần nửa thế kỷ qua, tôi sống được là nhờ bóng mát cây đa của làng, bây giờ cây đa bị đốn, tôi cũng không có quyền nhận số tiền hỗ trợ ấy. Tiền của dân làng thì phải trả lại dân làng. Cái suy nghĩ của bà cụ thật giản dị nhưng rất đỗi sâu sắc, nhân văn con ạ”. “Bầm ơi, thế bây giờ bà cụ ở đâu?”. “Cụ đã vào chùa làng nương nhờ cửa Phật những năm tháng cuối đời rồi”...
Dưới gốc đa ấy ngày xưa, thời tóc còn để chỏm, đi đánh tôm bắt cá những buổi trưa hè, tôi cũng từng được bà cụ cho những bát nước vối thơm nồng hay vừa bán, vừa cho những thỏi kẹo lạc, kẹo vừng giòn tan. Hai chục năm xa nhà, mỗi lần về quê, tôi vẫn thi thoảng dừng xe máy bên gốc cây đa để được ngắm bà cụ khi thì bỏm bẻm nhai trầu, lúc lại í a, à ơi những câu hát chèo cổ và được tận hưởng những giây phút uống nước vối, ăn kẹo lạc, kẹo vừng trong không gian làng quê bình dị thấm đẫm tình người.
Gần 50 cây số trên quãng đường từ quê trở lại Hà Nội, tay điều khiển xe gắn máy, mắt chăm chú trên đường, nhưng đầu óc tôi không nguôi vấn vương về hình bóng cây đa hơn trăm tuổi gắn bó với tâm hồn người quê tôi bao đời nay đột nhiên bị đốn bỏ mà theo dân làng tôi nói bóng gió là chỉ vì “cái tội” đứng “hiên ngang” ở ngã tư quá đắc địa! Để rồi giờ đây, nơi ấy lạnh lùng mọc lên một ngôi nhà cao tầng ngất ngưởng và nghe đâu sắp tới sẽ xây dựng thêm một cửa hàng bày bán cây cảnh của ông lãnh đạo nọ sau khi “hạ cánh”!
Bất chợt nhớ đến cụ già vì thương cây đa đến quặn lòng nên đành phải gửi thân phận mình nơi cửa thiền khi tuổi đã xế chiều, lòng tôi nhen lên một nỗi niềm man mác và khe khẽ thốt lên trong tâm tưởng: “Cây đa ơi, có tội tình chi!”...
THIỆN VĂN