Trên đất nước ta, nhiều dòng sông đã đi vào lịch sử chống quân xâm lược. Riêng dòng sông Lô đã có tới 4 nhạc sĩ viết về nó. Đó là “Chiến sĩ sông Lô” của Nguyễn Đình Phúc, “Sông Lô” của Văn Cao và “Lô Giang” của tôi. Để có được tác phẩm này là cả một câu chuỵện dài. Ngày 13-10-1947, Tiểu đoàn 42 đánh lui một tiểu đoàn bộ binh giặc, xung phong cướp súng, bắn chìm pháo thuyền ghi một chiến công lẫy lừng mở đầu cho những chiến công rực rỡ khác trên dòng sông Lô. Một hôm, anh Lê Minh Quốc, chính trị viên Tiểu đoàn 54 gọi tôi và anh Trần Hoàn lên gặp. Lúc đó, tôi là Phó ban Chính trị còn Trần Hoàn phụ trách tờ báo Chiến thắng. Anh Lê Minh Quốc nói như giao nhiệm vụ:

- Tiểu đoàn 42 vừa lập chiến công ở sông Lô, các cậu đến đó viết một cái gì để cổ vũ, động viên bộ đội.

Hai chúng tôi lên đường vào một ngày cuối năm. Đi dọc sông Lô, chúng tôi lần tìm dấu tích chiến công của đồng đội. Tôi vào một xóm nhỏ ven sông để hỏi thăm nơi đóng quân của tiểu đoàn. Lúc này đã vào thời kỳ cuối của chiến dịch thu đông 1947, quân Pháp đã ngược lên phía trên nên hai bờ sông Lô giờ đã bình yên. Tìm được nơi đóng quân của tiểu đoàn, hóa ra trong số họ nhiều người đã từng chiến đấu ở Hà Nội thời kỳ 60 ngày đêm “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”. Tại đây tôi gặp những chàng trai Hà Nội dáng thư sinh, hào hoa nhưng lại chiến đấu dũng cảm và gan góc lạ. Vũ khí của họ chỉ là súng trường, mã tấu, dao kiếm, chỉ có vài khẩu pháo cũ được đưa lên từ pháo đài Láng. Cuộc sống thiếu thốn là vậy, ăn đói mặc rét, trong lúc đó kẻ thù mạnh hơn ta gấp nhiều lần. Chiến công oai hùng của đồng chí, đồng đội chính là nguồn cảm hứng thôi thúc tôi sáng tác. Đêm ấy rét căm căm, tôi ngồi trong căn nhà nhỏ bên sông Lô, gần bến Bình Ca suy tư về tác phẩm. Mở đầu, tôi vẽ dòng sông bằng một gam màu xanh mát “Lô Giang, dòng nước trong xanh, có mái nhà xinh bên đồi núi cao…”. Tôi muốn nhân cách hóa, thần thoại hóa chiến công oai hùng bằng một bức tranh âm nhạc vừa mơ mộng, vừa hào hùng. Tôi viết tác phẩm ở gam son trưởng, hai đoạn nhạc với ý định bằng những câu nhạc giản dị nhưng vẫn toát lên chất hào hoa trong mỗi giai điệu, ca từ. Khi bài hát vừa hoàn thành, ngay lập tức đã được bộ đội đón nhận với tình cảm yêu mến. Tết năm ấy, “Lô Giang” được các anh Trần Chất, Phạm Ngọc Chương, Lê Hợi… hát rất say sưa, còn tôi chịu trách nhiệm kéo đàn ắc-coóc-đê-ông. Năm 1949, nhạc sĩ Lưu Hữu Phước đã nhận xét: “Lô Giang” ngắn nhưng nó là một chiếc khuyên ngọc chạm trổ rất kỹ theo những nét cổ truyền”. Có lần, trong một bữa dùng cơm với Đại tướng Hoàng Văn Thái, ông nói với tôi: “Bác Hồ khen Lô Giang của anh. Bác nói mô tả chiến công nhưng lại rất nhẹ nhàng”.

“Lô Giang” đã hành trình cùng người chiến sĩ, cùng đất nước 60 năm. Là tác giả, tôi mong muốn tác phẩm sẽ còn được nhiều thế hệ người Việt Nam yêu mến.

Nhạc sĩ LƯƠNG NGỌC TRÁC