Được thành lập từ tháng 4 năm 2004, chuẩn bị trường lớp, thầy giáo, “chiêu mộ” học sinh là cựu chiến binh, phụ lão, tháng 8 cùng năm, những chữ Hán đầu tiên đã xuất hiện trên bảng đen. Những mái đầu bạc của các “lão sinh” là kỹ sư, thầy thuốc, cô giáo già với những cặp kính trắng...
Được thành lập từ tháng 4 năm 2004, chuẩn bị trường lớp, thầy giáo, “chiêu mộ” học sinh là cựu chiến binh, phụ lão, tháng 8 cùng năm, những chữ Hán đầu tiên đã xuất hiện trên bảng đen. Những mái đầu bạc của các “lão sinh” là kỹ sư, thầy thuốc, cô giáo già với những cặp kính trắng, bàn tay cầm bút lông bắt đầu “điều khiển” những nét chữ tượng hình.
Sau 3 năm, 100 buổi học, các cụ học sinh đã có một lượng vốn chữ khá lớn, đọc và dịch được cái bức đại tự, câu đối trong đình, chùa, đền để giảng cho con cháu, khách tham quan-một việc làm mà nhiều cán bộ văn hóa hiện nay không làm được và đã có thể đem thư pháp của mình ra tặng, biếu và nếu cần… làm kinh tế cũng không phải không đắt hàng. Hằng năm, lớp tổ chức đọc, dịch và viết rồi phô-tô-cóp-pi thành tập những bài thơ chữ Hán của Bác Hồ, triển lãm bút tích thơ, thư chữ Hán của Bác… Các “lão sinh” này còn được mời dịch hộ các văn bản chữ Hán ở chùa Láng, đình Hòa Mục, trao đổi kinh nghiệm học tập với các lớp tiếng Hán với các lớp học ở Ninh Sở, Mễ Trì, Đan Phượng…
Lớp học của các cụ đã làm theo lời dạy của Lê-nin “Học, học nữa, học mãi”, còn sống ngày nào còn học, vì “hải học vô nhai” (biển học không có bến bờ) là tấm gương cho con cháu, cán bộ, đảng viên ở địa phương. Hơn thế nữa, việc học và hành có kết quả của các lão sinh này đã đóng góp vào việc bảo tồn, phát triển văn hóa của dân tộc nói chung và chữ Hán-Việt, chữ Nôm của nước ta nói riêng bởi vốn văn hóa này có thời gian đã bị lãng quên.
THỦY TRƯỜNG