Kẻ Noi xưa, nay là xã Cổ Nhuế (Từ Liêm, Hà Nội) có nhiều di tích lịch sử văn hóa, trong đó có 3 di tích ghi dấu ấn lòng thơm thảo của các bà, tiếng tốt vang xa, trở thành di sản văn hóa quý báu cho con cháu muôn đời.
Sự tích ra đời ngôi đình Cổ Nhuế được xây dựng có công lớn của bà công chúa Tả Minh Hiến thời nhà Lý, được ghi lại như sau:
Dân làng Cổ Nhuế có công giúp Hoàng Vương Đông Chinh vương dẹp giặc Tống ở Châu Văn (nay là Lạng Sơn) nên vua Lý xuống chiếu lập làng Cổ Nhuế, gồm các thôn Hoàng, thôn Trù, thôn Đống, phong Đông Chinh vương làm thần hoàng làng, cấp cho đất để sinh sống và thờ cúng.
Lòng trung tín của người dân kẻ Noi lưu danh qua câu chuyện được ghi lại trong thần phả: Khi đoàn quân của Hoàng Vương đi dẹp giặc qua làng, dân làng nghênh đón, xã dân trăm họ còn kịp làm các thứ bánh trái đặc sản của địa phương để dâng lên Hoàng Vương, xin ngài nhận cho quân sĩ cùng được ăn cho ấm dạ khi ra trận tiền giết giặc, thứ bánh đó gọi là “bánh trái độ nước lâm trận”. Sau này trước khi mất, Hoàng Vương dặn lại người chị là công chúa Tả Minh Hiến: Dân làng Cổ Nhuế trung thành và có nghĩa cử cao đẹp, mà vẫn nghèo không có tiền để làm đình làng, hương hỏa thờ cúng lâu đời. Đất tốt đã tìm được mà tiền bạc có đâu. Làm được ngôi miếu đường tốn phí quá nhiều, dân làng Cổ Nhuế quá nghèo, nay tối, mai qua bao giờ làm được. Bà Minh Hiến nghe xong trả lời: Nếu đúng thế, xin nguyện chu cấp tiền cho dân lập miếu có gì phải ngại. Bà cấp tiền cho dân làng làm đình. Làng thờ Đông Chinh vương và xin được phối thờ công chúa Tả Minh vương. Nhiều đời nay, trong lễ tiệc thờ thần hoàng làng hằng năm vào ngày 10-2 âm lịch nhân dân vẫn làm thứ bánh trái mà quân tướng nhà Lý thường ăn lót dạ để ra trận đánh giặc Tống như năm nào chứ không thịt lợn, mổ bò như các lễ hội khác.
Đến thời nhà Trần, con gái thứ 4 của vua Trần Thánh Tông (1240-1290) là công chúa Túc Trinh đã đích thân về làng Noi để chiêu tập phương dân và san bộ ở 3 làng cũ, cấp cho tiền vốn, mua trâu bò, nông cụ, lương ăn để khai khẩn đất hoang lập điền trang, xóm ấp, lấy khu đất cao làm danh trại của bà chúa, dân lấy chỗ cao làm nhà, vườn trại. Từ đấy thành một xóm nữa gọi là xóm vườn, tên chữ là Cổ Nhuế viên. Công chúa sống với dân, không lấy chồng. Sau đó bà còn chiêu tập dân phiêu tán lập ra trại Noi, sau thành làng Cổ Nội, rồi đổi thành Yên Nội (ngày nay là xã Liên Mạc). Hiện thời dân hai xã Cổ Nhuế và Liên Mạc cùng thờ bà làm thành hoàng làng và quen tên gọi Bà chúa Kẻ Noi, tượng bà được thờ tại chùa Viên, tên chùa là “Anh Linh tự”.
Cổ Nhuế còn có một chùa lớn là “Sùng Quang”, chùa được làm cùng đình làng, lúc đầu nhỏ hẹp, đến đời Trần có sửa lại đôi chút, nhưng đến đời Lê có sự tu sửa mở rộng, gắn liền với công lao của một người phụ nữ khác mà nhân dân rất kính trọng, danh thơm truyền mãi với đời sau, đó là bà Phạm Thị Độ, vợ ông chánh tổng Chu Mã Lượng. Đời vua Lê Y Tông (1735-1740), bà được chúa Trịnh Giang đưa vào phủ làm quan Nhũ mẫu, nuôi dạy công chúa Trịnh Thị Ngọc Liên-con gái chúa Trịnh Giang. Trịnh Thị Ngọc Liên đã xin nhà chúa cấp cho bà 6 mẫu đất, bà đã cung tiến số đất đó để mở chợ Cổ Nhuế ở trước chùa và xây dựng tôn tạo chùa to đẹp hơn. Tấm bia chùa Sùng Quang dựng đời Cảnh Hưng (1740-1786) còn ghi rõ những công tích của bà. Nhân dân nhớ ơn, lập đền thờ bà và dựng bia sau chùa.
Hậu thế noi gương các bà kẻ Noi, trong cuộc trường chinh giành và giữ độc lập tự do cho đất nước, Cổ Nhuế đã có những phụ nữ góp nhiều công của cho quê hương đất nước. Trong thời kỳ tiền khởi nghĩa, hưởng ứng cuộc vận động mua tín phiếu ủng hộ Việt Minh, bà Văn Thị Ninh đã giảm bớt chi phí cưới cho con lấy tiền mua 1.000 đồng tín phiếu ủng hộ Việt Minh. Gia đình bà còn nhận cung cấp hậu cần, bảo đảm bí mật làm địa điểm họp của Việt Minh khu vực để quán triệt chỉ thị “Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Trong kháng chiến chống Pháp, nhiều bà đã cùng gia đình dũng cảm nuôi cán bộ như bà Cả Thanh, dù khó khăn đến đâu cũng không từ chối. Các bà kẻ Noi, dẫu là công chúa, về với dân thường, hay người gốc kẻ Noi làm đến chức quan, cũng như những người dân bình thường đều để lại công đức trong việc xây dựng làng xã và phát triển văn hóa, phong tục tập quán tốt đẹp của một vùng quê.
TRẦN CÔNG HUYỀN