 |
| Chùa Bồ Đề |
Từ Cầu Long Biên bốn mùa lộng gió sông Hồng mát lành, nhìn xuôi về phía nam, sông Hồng uốn như dải lụa đào, và đôi bờ sông còn lưu giữ những cái tên thân quen đã đi vào ca dao như cỏ Bồ Đề, bến Bồ Đề. Tương truyền, bến sông có hai cây bồ đề lớn sừng sững, đối xứng với bên kia là tháp Báo Thiên ven hồ Hoàn Kiếm. Đại bản doanh của nghĩa quân Lam Sơn trên bến sông gọi là Doanh Bồ Đề, ngôi chùa cổ có tên là Thiên Sơn tự cũng gọi dân dã là chùa Bồ Đề.
Tháng Giêng năm Đinh Mùi (1427), để áp sát và vây thành Đông Quan, nơi quân Minh do Vương Thông chỉ huy đang cố thủ, Lê Lợi - Nguyễn Trãi đã có một quyết định sáng suốt: Đại bản doanh của nghĩa quân Lam Sơn chuyển từ Tây Phù Liệt (nay thuộc xã Ngũ Hiệp, huyện Thanh Trì) lên bến Bồ Đề, tả ngạn sông Hồng, thuộc xã Lâm Hạ (nay là phường Bồ Đề) để thuận tiện cho việc chỉ huy chiến dịch. Lê Lợi cho dựng lầu nhiều tầng và hằng ngày, ông lên tầng cao nhất quan sát địch, Nguyễn Trãi ở tầng dưới soạn thảo thư từ, chiếu biểu cho Lê Lợi để dụ Vương Thông ra hàng. Nhân dân các làng xã xung quanh nghe tiếng nghĩa quân Lam Sơn đã nô nức tòng quân và phục vụ chiến đấu, từ đó có câu đồng dao:
Nhong nhong ngựa Ông đã về
Cắt cỏ Bồ Đề cho ngựa Ông ăn
Tại đại bản doanh Bồ Đề, Triều liệt đại phu Nhập nội hành khiển Nguyễn Trãi đã viết hàng chục bức thư dụ hàng các tướng giặc dang cố thủ ở thành Đông Quan và các thành khác, thực hiện kế sách “mưu phạt tâm công”, “chẳng đánh mà người chịu khuất”, góp phần quan trọng vào thắng lợi của nghĩa quân Lam Sơn, trong đó, những bức thư dụ hàng tướng Vương Thông, Phương Chính lời lẽ đanh thép mà vẫn mở đường sống cho quân giặc đã trở thành những áng văn tuyệt tác của danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi.
Trong khí thế chiến thắng, mạnh như trúc trẻ, tro bay của nghĩa quân, lòng tràn đầy niềm vui chiến thắng, tại đại bản doanh, Nguyễn Trãi soạn bài văn cho Hội thề ở phía nam thành Đông Quan khi giặc Minh ra hàng vào ngày 22-11-1427. Lần đầu tiên trong lịch sử, trên mảnh đất Bồ Đề, Nguyễn Trãi là người đầu tiên viết giao ước - một loại hiệp ước cho quân thiên triều hùng mạnh đầu hàng không điều kiện.
Tháng Chạp năm Đinh Mùi, quân Minh không kèn không trống rút quân về nước, quân dân Đại Việt ca khúc khải hoàn và áng thiên cổ hùng văn “Cáo bình Ngô” của Nguyễn Trãi đã thể hiện rõ tính chất chính nghĩa và nhân văn của cuộc kháng chiến chống Minh: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân/Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”. Tự hào với truyền thống anh dũng của quê hương đất nước, nhân dân Bồ Đề còn lưu truyền câu ca: Tháng 3 năm 1428, tại Bồ Đề, Lê Lợi hội họp các tướng lĩnh, định công ban thưởng, đồng thời tổ chức lại bộ máy chính quyền, chuẩn bị vào Đông Đô. Ông chia cả nước làm 5 đạo và đặt chức Hành khiển đứng đầu mỗi đạo. Tháng Tư năm Mậu Thân, Lê Lợi và một số quần thần từ đại bản doanh Bồ Đề dời sang thành Đông Quan và làm lễ đăng quang đúng Rằm tháng Tư, lấy niên hiệu là Thuận Thiên - theo ý trời lòng dân.
Đại bản doanh Bồ Đề đã đi vào câu chuyện lịch sử về cuộc kháng chiến chống giặc Minh của quân dân đại Việt và cái tên Bồ Đề luôn nhắc cháu con nhớ những người anh hùng cứu nước Lê Lợi - Nguyễn Trãi, vua sáng tôi hiền và bộ chỉ huy nghĩa quân Lam sơn bên sóng nước Bồ Đề viết thư thảo hịch, đánh giặc Minh giải phóng Thăng Long.
Trên bến sông xưa, nay chỉ còn lại chùa Bồ Đề-một di tích lịch sử văn hoá. Khi Lê Lợi - Nguyễn Trãi đến đây đặt đại bản doanh thì ngôi chùa nằm trên gò cao đã rêu phong dưới bóng mát hai cây bồ đề. Năm 1614, chùa được trùng tu lại. Tấm bia Trùng cấu Thiên Sơn tự do Đệ tam giáp đồng tiến sĩ Nguyễn Lễ soạn vẫn còn lưu giữ trong chùa, đã tả cảnh chùa tấp nập: “Bồ Đề luôn luôn là nơi khách tụ tập, xe ngựa dập dìu, quan khách thường lai vãng qua đây. Phía tây trông ra sông Nhị Hà thuyền bè nhộn nhịp, vải lụa phơi bày, đế kinh lai kiến hội ở chỗ này”.
Năm 1874, Đại sư Thích Nguyên Biểu (1835-1906) trụ trì ở chùa Bồ Đề đã cho trùng tu lại chùa, dựng thượng điện 5 gian và các nhà Thiên hương, Pháp bảo, Tam quan; kiến trúc theo kiểu nội công ngoại quốc. Đầu thế kỷ XX, chùa Quán Sứ và chùa Bồ Đề là hai nơi đào tạo tăng ni của Hội Phật giáo Việt Nam ở phía Bắc.
Du khách bốn phương đến thăm chùa Bồ Đề, một di tích - danh thắng của Thủ đô Hà Nội, sẽ được thưởng ngoạn một quần thể kiến trúc đã được tôn tạo khang trang gồm nhà Tổ, nhà Mẫu, khu mộ tháp… Khu chùa chính có Tiền đường và Thượng điện được kết cấu theo kiểu chữ Đinh hoà hợp với cảnh sắc yên tĩnh mà thoáng đãng, khuôn viên đẹp với những cây đa cổ thụ như đưa du khách vào chốn bồng lai.
Giặc sang thì giặc phải về
Giặc đến Bồ Đề thì giặc phải tan
Cũng vào cuối năm Đinh Mùi, theo sách Kiến văn Tiểu lục của Lê Quý Đôn, Lê Lợi đã cho mở khoa thi đầu tiên với đề bài Hiểu dụ thành Đông Quan chính là để chọn người tài giỏi dâng kế sách đánh giặc. Trong khoa thi này, Đào Công Soạn, người xã Thiện Phiến, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên đỗ đầu. Những năm gần đây chùa Bồ Đề còn là nơi giáo dưỡng các em mồ côi. Các em được học văn hoá ở cả ba cấp học phổ thông. Đến Bồ Đề, thấy đạo và đời hòa quyện.
NGUYỄN QUANG DŨNG