Chùa Bồ Đề. Ảnh: Internet

QĐND Online - Phường Bồ Đề, quận Long Biên, thành phố Hà Nội ngày nay là vùng đất xuất xứ của câu ca dao quen thuộc: “Nhong nhong ngựa ông đã về/Cắt cỏ Bồ Đề cho ngựa ông ăn”.

Sử cũ kể rằng, vào tháng 2 năm 1427, cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược của nghĩa quân Lam Sơn bước vào thời kỳ giành toàn thắng, Lê Lợi và Bộ tham mưu nghĩa quân dời đại bản doanh từ Đông Phù Liệt (Thanh Trì) lên đóng “ở bờ phía tây sông Nhị, thuộc địa phận thôn Phú Viên, xã Lâm Hạ (còn gọi Bồ Đề), huyện Gia Lâm, đối diện với thành Đông Quan qua sông Nhị” (Đại Nam nhất thống chí). Tại nơi đây, Lê Lợi sai dựng một lầu cao ngang với tháp Bảo Thiên bên thành Đông Quan để làm chòi quan sát và chỉ huy. Hằng ngày, Lê Lợi lên lầu cao nhất để theo dõi hoạt động của quân địch trong thành Đông Quan. Nguyễn Trãi lúc bấy giờ giữ chức Nhập nội hành khiển Lại bộ thượng thư, ngồi ở lầu thứ hai để cùng bàn bạc với Lê Lợi và thảo các thư từ giao thiệp với quân Minh, cũng như các mệnh lệnh gửi cho nghĩa quân. Tại đại bản doanh mới này, Lê Lợi, Nguyễn Trãi và Bộ tham mưu nghĩa quân trực tiếp chỉ huy việc vây hãm thành Đông Quan và tiến hành cuộc chiến tranh chính trị (binh địch vận) với địch.

Từ khi Lê Lợi và Bộ tham mưu nghĩa quân đóng ở Bồ Đề thì “hào kiệt ở vùng kinh lộ cùng nhân dân các phủ huyện, các tù trưởng ở các biên trấn đều đến cửa dinh nguyện ra sức liều chết đánh các thành của giặc. Nhân dân ở các vùng phụ cận không tiếc tiền của, đem gạo thịt đến chúc mừng và khao thưởng nghĩa quân. Chính từ sự kiện này, sau đó tên xã được gọi là Lâm Hạ (có nghĩa là đến chúc mừng). Cảm động trước nhiệt tình yêu nước của nhân dân, nhưng để giữ nghiêm “kỷ luật dân vận”, Lê Lợi sau khi tiếp đãi nhân dân ân cần, chỉ xin nhân dân chu cấp cỏ cho ngựa chiến ăn, còn rượu thịt xin gửi lại... Câu ca dao “Nhong nhong ngựa ông đã về/Cắt cỏ Bồ Đề cho ngựa ông ăn” ra đời trong sự kiện này. Nhân đấy, Lê Lợi tuyển thêm nghĩa quân, thu nạp thêm nhân tài để bổ sung lực lượng. Phàm nhân dân, sĩ thứ, hễ ai đến cửa quân, tùy tài cao thấp mà cắt đặt, chia việc, khích lệ bằng tước và ban thưởng. Do vậy, ai nấy đều cảm kích, thề hết sức liều chết đánh giặc, đến đâu là lập được công ngay.

Đầu năm 1427, ngay trên đất Bồ Đề lịch sử, Lê Lợi mở khoa thi đầu tiên của triều Lê. Đầu đề bài thi là: “Bằng văn dụ thành Đông Quan”. Đây là đề thi rất thiết thực, nhằm phục vụ trực tiếp cho cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc lúc ấy, với chủ trương vừa hãm vừa dụ hàng giặc Minh ở thành Đông Quan. Theo nhà bác học Lê Quý Đôn, trong kỳ thi có 30 người thi đỗ, được sung chức Yên phủ các lộ bên ngoài và chức Viên ngoại lang ở sáu bộ trong Kinh. Đào Công Soạn, người huyện Tiên Lữ (Hải Dương) đỗ đầu. Lê Lợi còn đặt triều đình ở dinh Bồ Đề trong một thời gian. Đến tháng 4 năm 1428, ông mới chuyển vào thành Đông Quan. Trong thời gian ở dinh Bồ Đề, Lê Lợi đã họp đại hội các tướng và các quan văn võ để định công ban thưởng, theo công cao thấp mà định thứ bậc; chia nước làm 5 đạo, đạo đặt Vệ quân, Vệ chức tổng quản và đặt chức Hành khiển các đạo để giữ sổ sách về quân dân; sai quan chia nhau đi tế các thần kỳ ở núi sông, miếu xã các xứ và các lăng tẩm các triều đại trước; truy tôn thụy thực hiện từ Khảo tỷ trở lên....

Trong suốt mấy thế kỷ sau, Bồ Đề vẫn giữ vị trí then chốt của cửa ngõ đế đô. Nơi đây cũng trở nên đông vui, sầm uất, nhà cửa san sát, trên bến dưới thuyền, cảnh vật tốt tươi. Bồ Đề thật sự góp phần cùng kinh đô tạo nên một trung tâm kinh tế-chính trị-văn hóa của cả nước. Vào các thế kỷ XVII, XVIII, Bồ Đề trở thành một thắng cảnh nổi tiếng. Sứ thần nhà Thanh (Trung Quốc) khi sang Thăng Long có đề vịnh 8 cảnh đẹp của kinh thành (Sử gọi là: Thăng Long bát cảnh), thì Bồ Đề ở vị trí thứ 4.

Ngày nay, đất nước ta đang từng ngày, từng giờ đổi thịt, thay da, Bồ Đề trở thành một trong những chốn phong lưu bậc nhất của của kinh thành: “ Ăn Cấm Chỉ, nghỉ Bồ Đề (Gia Lâm)”. Đặc biệt, nơi đây có hai thắng cảnh: chùa Bồ Đề và Đền Gềnh thờ Ngọc Hân công chúa (vợ vua Quang Trung) nổi tiếng linh thiêng. Hằng năm, vào dịp lập xuân và lập thu, khách hành hương khắp nơi trong nước tìm về vãn cảnh và thắp hương bái vọng... khiến cho đất Bồ Đề càng thêm nổi tiếng.

NGUYỄN THẾ VỴ