“Biết” không phải là cái gì cao xa, phải đòi hỏi hàn lâm, những triết thuyết Đông-Tây, mà “biết” luôn tồn tại, là cái “tính” sẵn có trong mỗi người. Sự “biết” ngày càng dày dặn, giàu có do quá trình sống, học tập, từng trải, vấp ngã, thất bại, vượt qua và chiêm nghiệm. Chỉ sự “biết” mới phân định được cái đúng cái không đúng; cái hay cái dở, minh triết và vô minh hòng mong đến cân đối hài hòa trong đời sống con người.
Có thể lấy vô vàn thí dụ về sự “biết” và không “biết”. Giả như một bộ chuông đồng có niên đại ngót ngàn năm từ thời nhà Lý ở một huyện miền núi. Bộ chuông đồng này với các nhà văn hóa thì trăm phần trăm là một báu vật hiếm hoi. Nhưng với bà con nông dân thì nó bình thường như mọi thứ đồ dùng sinh hoạt khác. Vì thế mà đã nhiều năm nay, cho dù Sở Văn hóa-Thể thao và Du lịch tỉnh dựng lều bảo vệ, nhưng nó vẫn trở thành nơi vô cùng tiện lợi cho gia súc, gia cầm đi hoang vào trú mưa, trú nắng. Và giờ đây nó đang trở thành phế tích, mặc thời gian cỏ dại um tùm… Ấy là vì không biết hoặc có biết nhưng biết hời hợt, qua loa.
Lại một nhà nghiên cứu nọ tham gia cuộc hội thảo khoa học chuyên đề về phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân Việt Nam, nhưng ông lại lên đọc bản dịch của một tác giả nước ngoài bàn về phát triển công nghệ thông tin đầu thế kỷ hai mốt dài đến nửa tiếng đồng hồ. Rồi tiện thể, ông đọc luôn bài vè tếu táo, chẳng ăn nhập gì với cuộc hội thảo, làm cả hội trường cười méo mó, còn ban tổ chức ôm đầu thở dài ngao ngán. Sau cuộc hội thảo có người bảo ông bị “chập mạch”. Tự ông cũng thấy ngượng, bởi cái thứ ông “phun châu nhả ngọc” trên diễn đàn quá lạc lõng, đã gây phản cảm. Ấy là sự không biết. Vậy khi muốn hành xử việc gì dù to dù nhỏ cũng phải “biết”, phải đủ khả năng đưa ra quyết định xác đáng, khách quan, hợp lý, hợp thời… Những quyết định này được lựa chọn thông qua năng lực học tập, nghiên cứu; qua kinh nghiệm sống, đạo lý, qua những được mất, nhục vinh đúc kết từ chính cuộc đời, từ chính tâm can thành thật chứ không phải chủ quan cảm tính xằng bậy “ăn theo nói leo”. Nói như vậy là vì cuộc sống hằng ngày chúng ta thật khổ sở và khó chịu khi phải va chạm với sự không biết. Các cụ bảo “không biết thì dựa cột mà nghe”. Đằng này người không biết đã không “dựa cột” mà còn “la toáng” lên rằng “biết”. Vậy mà cái trò “toáng” lên ấy vẫn lừa được khối người. Giả như trường hợp một vị cán bộ làm công tác văn hóa phường, không hiểu tài xoay xở thế nào mà ông xin được giấy phép ra tạp chí, săn đón khắp các vùng, tìm gặp những người quê ham viết lách sẵn máu nổi danh gom bài. Tiêu chuẩn đăng trên tạp chí đơn giản: Không cần hay dở, thơ cứ vần điệu, văn chữ kín vài ba trang. Điều kiện: Người có tác phẩm mua mươi cuốn tạp chí. Bài được đăng không có nhuận bút đã đành mà tác giả còn phải đóng thêm tiền cho mỗi tác phẩm khi được in. Chưa hết, để quảng cáo cho tạp chí của mình, ông phịa ra đủ thứ danh hão cho mình. Nào ông là nhà thơ, nhà văn, nghệ sĩ chính hiệu… và ở đâu cũng hùng hồn tuyên bố: “tạp chí là nơi tập hợp những giá trị văn học-nghệ thuật đích thực để đời, tác phẩm được in sống mãi với thời gian, niềm vinh dự của mọi công dân Việt…”. Chuyện mê sảng điên rồ của ông không qua mắt người tử tế. Ông nhanh chóng bị phát giác là trò hề, khôi hài láu cá, chuyên “lòe” thiên hạ làm tiền. Giờ thì ngay cả những người dân quê chất phác yêu nghệ thuật cũng nhận ra chân tướng ít học và thói ma mãnh vặt của ông. Nó làm cho đời sống thêm uế tạp, còn người lương thiện thì bị cú lừa ngoạn mục.
Ở đời cái sự không biết mình biết người, tài năng nhân cách ra sao… có lẽ là bi kịch đáng xấu hổ nhất. Bi kịch này là những việc nhỏ thì gây phiền toái cho người xung quanh mình, còn việc lớn đôi khi để lại hậu quả khôn lường cho, thậm chí lây lan tới cả thế hệ mai sau. Khổ thay, cuộc sống muôn vẻ, muôn hình nhiều khi sự không biết mình không biết người vẫn như cỏ dại ngày mưa, hỡi ôi! Nhân gian nhiều nỗi lắm ru!…
MÃ PÍ LÈNG