QĐND - Trong vô vàn giấc mơ trên đời này, rốt cuộc chỉ là giấc mơ thôi. Vậy nên, trường hợp cựu chiến binh Nguyễn Văn Khuông, 92 tuổi, ở 186 phố Vọng, Hà Nội mơ thấy người đồng đội Khăm Nhọt hiện về bảo: “Đồng chí Khuông Khăm Húng ơi, đừng băn khoăn gì cả, muốn biết tôi là ai cứ hỏi em Sầm”, trở thành hiện thực thì quả là điều hy hữu đến mức kỳ diệu!

Khăm Húng là tên Lào của cụ Khuông do Hoàng thân Xu-pha-nu-vông đặt cho năm 1948, khi cụ sang nước bạn chiến đấu. Hồi đó, cụ làm liên lạc ở Khu Lào Bắc, biết Trưởng ban cán sự huyện Siềng Khọ (tỉnh Hủa Phăn) là Khăm Nhọt, nhưng không biết tên Việt Nam của ông. Năm ấy, Đội vũ trang Lào Bắc được thành lập do đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn chỉ huy và một trong những “cố vấn” Việt Nam là Khăm Nhọt.

Đầu năm 2012, cụ Khuông lặn lội sang tận Bắc Lào tìm mộ đồng đội hy sinh thời chống Pháp. Cụ đến vùng Phiêng Sa, tìm được mộ hai người lính tình nguyện thuộc thế hệ đầu tiên giúp bạn, đều hy sinh năm 1952, người đầu năm, người cuối năm. Gọi là “tìm” chứ không phải tìm gì nhiều. Bao năm, hai ngôi mộ vẫn được dân địa phương gìn giữ. Cụ Tráng Lao Khô hoạt động cùng thời với ông Khăm Nhọt, trước lúc mất giao ngôi mộ cho người con cả là Tráng Lao Lử chăm nom. Cái chết của “chú Khăm Nhọt” đến giờ ông Lao Lử đã ngoài 70 tuổi vẫn nhớ rõ. Ông cho biết: “Đội đang đi công tác trên đất biên giới phía Việt Nam thuộc tỉnh Sơn La thì bị địch phục kích. Chú Khăm Nhọt bảo mọi người chạy về một phía còn mình chạy tạt sang đất Lào để đánh lạc hướng địch, chú bị trúng đạn ngã xuống. Một ngày sau, dân bản tìm thấy xác chú, tay vẫn cầm khẩu súng ngắn, lúc ấy không có điều kiện mai táng, đành đắp đất đá lên thành một ngôi mộ. Khẩu súng ngắn được đưa lại cho chú Nguyễn Tín, một cán bộ dân vận, cuối năm đó, chú Tín mất vì sốt rét ác tính tại rừng”.

Trong dịp Tết Bun-pi-may ở Đại sứ quán Lào tại Hà Nội. Từ trái sang: Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan; ông Tráng Lao Lử; bà Nguyễn Thị Sầm.

Cụ Khuông cùng những người tìm mộ đã chứng kiến giờ phút mở ngôi mộ ông Khăm Nhọt, xương cốt tiêu cả, chỉ còn đất đen, răng là thứ bền nhất cũng không còn. Trong đoàn có Tiến sĩ Vũ Bằng, người đã chế được một thiết bị gọi là “máy cảm xạ” phát ra những tia từ trường đặc biệt, khi gặp xương cốt người thì kim đồng hồ quay. Đoàn đã thử “nhanh” trên hiện trường, đưa máy vào chỗ để xương động vật thì kim đứng im, còn với nắm đất đen của ngôi mộ Khăm Nhọt, kim quay, cứ đào vét hết đất đen cho đến khi kim không quay nữa thì thôi. Mộ của liệt sĩ Nguyễn Tín cũng chỉ còn đất đen như vậy. Thế mới biết, mối rừng Lào ghê gớm, chúng ăn không để lại chút gì! Nhưng với những người nặng tình với đồng đội như cụ Khuông thì nắm đất đen ấy thật linh thiêng, phải được trân trọng giữ gìn đưa về quê mẹ an táng.

Việc trong giấc mơ, Khăm Nhọt hiện về nhắc “em Sầm” làm cụ bừng tỉnh. Phải rồi, “em Sầm” chính là “nàng Bun Su” mà ngày ấy đồng chí Cay-xỏn hay gọi người thiếu nữ nhỏ nhắn, xinh xắn làm giao thông liên lạc của Khu Lào Bắc, còn tên Việt của “nàng” là Sầm. Cũng chính đồng chí Cay-xỏn làm chủ hôn cho lễ cưới Bun Su - Khăm Nhọt. Rồi họ ở với nhau chưa đầy hai tháng thì Khăm Nhọt hy sinh. Nàng Bun Su mới 20 tuổi, trở về Việt Nam, nghe nói có gia đình ở Sơn La. May mà cụ Khuông lại biết một người ở Hà Nội gọi “nàng Bun Su” là cô họ, liền hỏi, biết được địa chỉ. Qua điện thoại, cụ hỏi: Bà có biết ai tên Khăm Nhọt không? Đầu dây bên kia trả lời ngay: Khăm Nhọt, do anh Cay-xỏn lúc đó là Đội trưởng Đội vũ trang Lào Bắc đặt cho anh Phạm Ngọc Bân. Cụ hỏi tiếp: Quê anh Bân ở đâu? Trả lời: Khoái Châu, Hưng Yên. Lại hỏi: Sau khi về nước cô làm gì? Đến đây, đầu dây bên kia gắt lên: Hỏi gì lắm thế! Và cúp máy.

Cảng Bích Hạ nước xanh biếc, kín đáo nằm bên bờ trái đập thủy điện Hòa Bình. Một ngày đầu Xuân bỗng trở nên nhộn nhịp, có đoàn khách cựu chiến binh Hà Nội lên thăm. Nàng Bun Su - Nguyễn Thị Sầm nay đã là bà lão tuổi 80, còn khỏe mạnh tinh tường. Ngày ấy bà còn quá trẻ, trở về nước, trên nẻo đường kháng chiến, bà đã may mắn gặp được người chồng bây giờ, một “thủ trưởng” trực tiếp của mình lúc đi dân công hỏa tuyến mặt trận Điện Biên Phủ. Có một hạnh phúc bên người chồng tốt bụng, hiểu mình và có những đứa con ngoan, bà không muốn làm điều gì gây xáo động cái tổ ấm riêng tư ấy. Theo dõi đài báo, bà biết đồng chí Cay-xỏn đã trở thành Tổng bí thư, lãnh tụ tối cao của nước Lào; một đội viên của đội vũ trang ngày ấy là ông Xỉ-sa-vạt Kẹo-bun-phăn đã là Đại tướng, Bộ trưởng Quốc phòng, sau là Thủ tướng Chính phủ… Bà mừng trong lòng mà chẳng dám “khoe” ai. Bà cũng âm thầm nuốt nước mắt vào trong khi chạnh nghĩ đến người chồng đầu nằm lại nơi rừng hoang sương muối. Nay đã đến lúc phải cho mọi người biết câu chuyện hơn 60 năm về trước.

Cụ Khôi, chồng bà năm nay đã ngoài 90 tuổi, tai hơi bị “nặng” nhưng còn tinh anh, nghe từ đầu câu chuyện vợ kể lại, tỏ ra rất cảm thông và cụ lập ngay một bàn thờ ông Khăm Nhọt-Phạm Ngọc Bân tại nhà. Cụ bảo: Ông ấy rất thiêng, vẫn nhớ đến bà Sầm và chắc hiểu lòng tôi; nay ông không còn người thân ở quê thì chúng tôi có trách nhiệm sớm tối hương khói cho vong hồn ông khỏi tủi.

Bích Hạ vào Xuân. Năm nay, người dân ở đây biết thêm một câu chuyện mới đầy xúc động. Bà con xóm giềng kể lại cho con cháu nghe về sự thủy chung nghĩa tình của những người một thời là đồng chí, đồng đội của nhau; về đôi vợ chồng già của xóm cảng với tấm lòng chân thành, nhân ái với người đã khuất…

Bút ký của PHẠM QUANG ĐẨU