Bánh xu xuê Đình Bảng

Mùa xuân trẩy hội, mời bạn về quê tôi - Đình Bảng (huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh) vãn cảnh Đền Đô và thưởng thức hương vị mát lành của bánh xu xuê.

Bánh xu xuê quê tôi đã nổi tiếng từ lâu, đây là loại bánh ngọt, vỏ óng vàng như mật. Người ăn một lần thì nhớ lâu, nhớ mãi. Ngày xưa, bánh chỉ được làm vào dịp Tết hoặc lễ ăn hỏi, cưới xin. Cũng như bánh rợm, bánh mật của các địa phương lân cận cùng với bánh chưng xanh, bánh xu xuê làng tôi không thể thiếu trong dịp Tết Nguyên đán. Người làng tôi dùng bánh xu xuê để thờ cúng, để biếu họ hàng, bạn bè gần xa.

Từ ngày Đền Đô được trùng tu, người thập phương về trẩy hội và lễ Đền nườm nượp. Người làng tôi mang thứ bánh đặc sản của mình bán cho du khách. Lâu dần thành quen, bánh không chỉ bán ở Đền mà tràn ra cả làng, cả xã, nhất là hai bên quốc lộ. Bánh cũng không chỉ làm trong dịp Tết mà có quanh năm. Bánh xu xuê đã đi về muôn ngả, trên các nẻo đường rừng núi phía bắc đến Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Tháp, Cà Mau... Bánh làng tôi còn vượt cả nghìn, cả chục nghìn km tới các miền đất xa xôi trên thế giới. Ngày còn trong quân ngũ, mỗi lần về quê tôi thường mang lên đơn vị mươi cặp bánh làm quà, anh em thưởng thức khen lắm.

Để làm ra chiếc bánh xu xuê, khá vất vả và công phu. Người ta chọn nếp cái hoa vàng, xay thành bột nước, lọc đi lọc lại, rồi phơi cũng dăm bảy nắng. Khi bột đã khô, cầm miếng bột để vào đầu lưỡi, thấy nó mát mịn, tan biến đi mới được. Lúc làm bánh, bột được trộn với đường kính, đu đủ xanh nạo nhỏ, một ít nước quả dành dành, thấu kỹ để làm vỏ bánh. Nhân bánh cũng cầu kỳ không kém, gồm đỗ xanh nấu với đường kính, cùi dừa thái nhỏ, hạt sen, một chút hương thơm. Bánh chủ yếu gói bằng lá chuối, lá dong, buộc đôi lạt điều để làm duyên, làm dáng...

Bánh xu xuê làng tôi còn được gọi bằng tên khác: phu thê. Giai thoại kể rằng, ngày xưa bánh được dân làng đem dâng Vua. Vua thấy bánh có cặp, có đôi, ăn thì rất ngon, vì vừa dẻo, dai thơm mát..., lại làm từ những sản phẩm rất đậm đà hương vị thôn quê, nên để nhắc nhở mọi gia đình hãy sống thuận hòa, thủy chung chồng vợ, nên Vua bèn đặt tên cho là bánh phu thê...

Bà tôi bảo, bánh có từ đời nào cũng chẳng ai biết, vì không thấy sử sách nào viết. “Cái lý” của bà về bánh phải có cặp là: “Chiếc bánh được làm bằng bột tinh, vừa mềm, vừa dẻo nên không thể làm to, làm dày được, và nếu làm dày, lúc ăn phải cắt bánh rất khó, lại không đẹp. Vì thế, lúc thờ cúng hay đem biếu, người ta thường hay buộc chung hai chiếc vào một cái lạt điều, cốt để chiếc bánh cao hơn, dày hơn, vừa đẹp mắt vừa trang trọng, nên mới có cặp, có đôi là vì thế”. Người “sành điệu” bây giờ rất tin vào giai thoại “vợ, chồng” nên đã đến Đền Đô là thể nào cũng tìm mua bánh phu thê. Vì thế, dân làng tôi cũng phải chạy theo tên, theo mác để chiều lòng khách. Không ít người đã phải hạ biển để đổi chữ, thay tên, bởi nhiều khách hàng cứ gặp chữ “xu xuê” là lắc đầu quầy quậy. Nhưng cũng không ít gia đình làm bánh có uy tín và chất lượng cao, vẫn dùng tên cũ mà hàng làm bao nhiêu cũng không kịp cho khách đặt mua.

Còn với tôi, dù chiếc bánh có được mang tên phu thê hay xu xuê, thì niềm tự hào về thứ bánh đặc sản của quê hương giàu truyền thống cách mạng và văn hóa vẫn y nguyên. Người quan họ bây giờ đón bạn chẳng chờ “đến hẹn”, bởi lòng người xứ này lúc nào cũng như mùa xuân, hương vị bánh xu xuê mùa nào cũng dịu ngọt, quyến rũ.

HOÀNG NGỌC BÍNH