Mâm cỗ thể hiện ước mơ "thiên thời, địa lợi"

Đón chào năm mới, người Huế rất coi trọng mâm cỗ cúng ngày 30 Tết. Họ xem đây là mâm cỗ để đón tổ tiên, ông bà về vui Tết với con cháu và cũng là ngày các thành viên trong gia đình tụ họp đông đủ để thắp nén hương tỏ việc hiếu nghĩa với tổ tiên, ông bà ngày cuối năm.

Để chuẩn bị cho Tết, ngoài việc trang trí bàn thờ, chuẩn bị “mâm bồng” ngũ quả... người Huế bao giờ cũng cố gắng kiếm một cành hoa mai vàng để trang trí Tết. Họ không quên tỉa vài nhánh hoa mai nhỏ để cắm lên bình hoa trên bàn thờ. Tết xưa, người dân Huế thường gói bánh tét, bánh chưng và làm bánh in để dâng cúng tổ tiên. Nguyên liệu làm bánh in là bột nếp, bột đậu xanh, bột bình tinh… Họ nhào chín một ít bột với đường cát trắng rồi trộn đều vào mâm bột đã chuẩn bị. Sau đó họ đổ bột vào khuôn nhỏ bằng đồng hình chữ nhật, hình vuông hoặc hình tròn để in thành bánh. Họ còn dùng bột đậu xanh nhào chín với đường rồi vo tròn gọi là bánh “sen tán”. Bánh in xong phải sấy thật khô trên lò than hoa (than củi), sau đó gói vào giấy bóng kính nhiều màu.

Bánh bông cây. Ảnh: VĂN TOẢN

Có một loại bánh rất đặc biệt ở Huế trong dịp Tết cổ truyền đến đó là bánh bông cây. Theo ông Nguyễn Thế, Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian TP Huế, một nhà nghiên cứu nhiều năm về văn hóa Huế thì “loại bánh này có xuất xứ từ phủ thờ bà Thuận Thiên Cao Hoàng hậu ở làng Văn Xá, phường Hương Văn, TP phố Huế hiện nay. Thuận Thiên Cao Hoàng hậu tên thật là Trần Thị Đang (1769-1846) có chồng là Vua Gia Long, con là Vua Minh Mạng, cháu nội là Vua Thiệu Trị. Bà đã từng sống cùng với cháu, chắt 5 đời trong cung. Khi tuổi già sức yếu, các con cháu đã phụng dưỡng bà hết mực, nhiều lần trực tiếp hầu cơm bà. Lúc đương thời, Ngự thiện phòng và Ngự y trong cung đã dâng những món ăn trân quý, những vị thuốc bổ dưỡng để duy trì sức khỏe cho bà. Sau khi bà mất, con cháu và người hầu đã làm những loại bánh cúng tạo hình nhân sâm, gừng và các loài hoa quý để dâng cúng như lúc bà còn tại thế. Vì vậy, những thế hệ cháu chắt sau này của bà ở phủ thờ Văn Xá vẫn tiếp tục làm những loại bánh này để dâng cúng bà trong các ngày giỗ, lễ, Tết ở phủ và tiến cúng ở triều nội. Bánh bông cây được tạo hình những loại hoa trái như: Hoa mai, hoa hải đường, củ sâm, củ gừng…

Trên mâm cúng của người Huế, không bao giờ thiếu bánh chưng, bánh tét, bánh in… Các loại bánh ấy tuy mộc mạc, dân dã nhưng thể hiện ước mơ người dân được “thiên thời, địa lợi” để làm ăn phát đạt trong năm mới.

Huế vào xuân. Ảnh: LONG NHẬT 

Dựng nêu là một nghi lễ quốc gia

Dựng nêu ngày Tết là một sinh hoạt văn hóa đặc sắc của dân tộc Việt Nam. Nhiều vùng miền ở nước ta có thực hành nghi lễ dựng nêu. Cây nêu vút cao từ mặt đất bằng phẳng gửi gắm quan niệm về mối quan hệ gắn kết, hài hòa giữa trời, đất và người, gửi gắm ước vọng mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, cuộc sống sung túc, no đủ của các cộng đồng cư dân. Cây nêu còn chuyển tải tư tưởng về sự vận hành của vũ trụ và nhân sinh trong mối tương hợp, hài hòa âm dương ngũ hành. Đồng thời, cây nêu dựng lên trong ngày Tết cũng là sự biểu hiện của tâm thức hướng về tổ tiên, cội nguồn, là tiếng nói trang trọng mời gọi sự hiện diện của tiền nhân trong những thời khắc thiêng liêng của vũ trụ, của đời người.

Dựng nêu ngày Tết đã diễn ra từ lâu trong dân gian, nhưng đến thời nhà Nguyễn đã được chế định thành những chuẩn tắc mang tính nghi lễ cung đình, trở thành một sinh hoạt văn hóa mang tầm vóc quốc gia và có tính “quan phương” rõ nét. Có thể tìm thấy nhiều ghi chép về nghi lễ dựng nêu trong “Đại Nam thực lục”.

Trong “Đại Nam thực lục”, Đệ tam kỷ, quyển LIII ghi chép về lễ dựng nêu thời vua Thiệu Trị: Hằng năm, tháng Chạp làm lễ “tuế trừ” (tháng đủ, vào ngày 30,  tháng thiếu vào ngày 29) […]; lễ xong, hữu ty chiếu lệ, dựng nêu, hoàng tử, hoàng thân và lỗ bộ, nghi trượng, nhã nhạc, đều lui ra, đến chiều hôm ấy, vẫn theo lệ làm lễ “trừ tịch”.

Đến thời Tự Đức, năm 1876, lễ dựng nêu, hạ nêu đã được quy định một cách chặt chẽ: Chuẩn định lệ dựng nêu, hạ nêu. Lệ trước: Ngày 30 Tết trồng nêu, mồng 7 tháng Giêng năm sau hạ nêu, đều cho Khâm thiên giám chọn giờ lành. Sau chuẩn cho đều lấy giờ Thìn làm nhất định (“Đại Nam thực lục”, Đệ tứ kỷ, quyển LVII).

Rực rỡ sắc xuân xứ Huế. Ảnh: ĐÌNH HOÀNG 


Như vậy, từ thời nhà Nguyễn, dựng nêu trở thành một lễ nghi quốc gia, được tiến hành ở những nơi trang nghiêm, nghi lễ, ngày giờ được quy định rất chặt chẽ. Đồng thời sau thời điểm triều đình dựng nêu thì nghi thức này mới được thực hiện trong dân gian. Sau khi dựng nêu, triều đình đóng ấn, và đến mồng 7 tháng Giêng hạ nêu thì các công việc hành chính mới được triển khai bình thường trở lại. Nghĩa là, nghi lễ dựng nêu ở Huế gắn chặt với thời gian vận hành của cả bộ máy hành chính nhà nước và liên quan đến nhịp sống của đông đảo nhân dân.

Từ một nét văn hóa dân gian, dựng nêu ở Huế đã trở thành một điểm độc đáo của lễ nghi và văn hóa cung đình, cho thấy sự cộng thông và dung hợp độc đáo của văn hoá Huế trong dòng chảy của văn hóa Việt Nam.

Hội vật truyền thống

Tết Huế cũng là Tết của lễ hội và các trò chơi dân gian ngày xuân. Ngày xưa, cứ mỗi dịp Tết đến, xuân về, nhiều làng xã ở Huế lại tưng bừng mở hội vui xuân với nhiều trò chơi dân gian độc đáo, đặc biệt là trò chơi đu ngày đầu năm với nhiều trò hấp dẫn như: Đu tiên, đu nhún, đu rút, đu giàn xay… Huế cũng từng có trò diễn về “tứ dân bách nghệ” hay còn gọi là trò “trình nghề” như trò Trám ở Phú Thọ. Một số lễ hội, trò chơi, trò diễn ngày xuân đã và đang mai một. Riêng Hội vật mùa xuân được xem là môn thể thao được duy trì và phát triển đều đặn ở vùng đất Huế hiện nay. Bên cạnh Hội vật làng Sình, Huế còn có Hội vật ở làng Thủ Lễ. Ca dao có câu: "Dù ai đi ngược về xuôi/ Nhớ ngày hội vật mồng mười tháng Giêng"...

Hội vật mùa xuân. Ảnh: VĂN TOẢN 

Hội vật làng Sình tổ chức vào ngày mồng 10 tháng Giêng còn Hội vật làng Thủ Lễ diễn ra vào mồng 6 Tết Nguyên đán tại sân đình làng. Đây là lễ hội có truyền thống hàng trăm năm, từ thời các chúa Nguyễn. Hội vật là một hình thức sinh hoạt văn hóa để giúp nhân dân rèn luyện sức khỏe, nêu cao tinh thần thượng võ, tuyển chọn quân đội cho triều đình, đồng thời gửi gắm ước vọng, nguyện cầu quốc thái dân an của dân làng.

Trước khi khai hội, các bậc cao niên và tộc trưởng tiến hành lễ tế cáo trang nghiêm trong chánh điện đình làng. Tiếp đó, hội vật khai sới với màn biểu diễn của các đô vật cao niên. Tiếp theo là những màn trình diễn các thế vật đẹp của các đô vật giàu kinh nghiệm. Phần chính của lễ hội vật là các trận tranh tài sôi nổi, gay cấn giữa các đô vật đến từ nhiều địa phương.

Hội vật ở các làng quê xứ Huế thể hiện tinh thần thượng võ và bản sắc văn hóa của nhân dân vùng núi Ngự sông Hương xưa mà đến nay vẫn còn lưu giữ, là một biểu trưng độc đáo cho sự phong phú, đa sắc của văn hóa Huế trong tiến trình vận động của văn hóa Việt.

Trong cuộc hội nhập về kinh tế và văn hóa toàn cầu, nhất là thời đại công nghệ số hiện nay chắc chắn sẽ có những tác động làm thay đổi một phần phong tục và tập quán ngày Tết không chỉ đối với người dân Huế. Bởi vậy, khôi phục, gìn giữ và phát triển những phong tục đẹp, những nét sinh hoạt đã trở thành bản sắc riêng của Huế khi Tết đến, xuân về là điều vô cùng cần thiết./.