QĐND -  Sử thi Tây Nguyên là sử thi sống, đòi hỏi khi diễn xướng (kể Khan) phải có nghệ nhân hát kể, phải có người nghe và nhất là phải có không gian diễn xướng, mới làm cho sử thi sống động, có hồn.

Không gian diễn xướng của sử thi Tây Nguyên là rừng thiêng, buôn làng, nhà dài, nhà rông, bến nước, nương rẫy, lễ hội. Trước đây, sử thi Tây Nguyên không thể thiếu trong đời sống của đồng bào các dân tộc bản địa Tây Nguyên. Cũng vì lẽ ấy, nên với bà con các dân tộc tại Tây Nguyên xa xưa: “Cuộc sống thiếu tiếng chiêng, vắng lời Khan (diễn xướng, hay hát kể sử thi), chẳng khác nào thiếu cơm, thiếu muối!”.

Nhưng những năm gần đây, nhất là trước ảnh hưởng tiêu cực của văn hóa ngoại lai, cùng những tác động từ mặt trái của nền kinh tế thị trường, đã làm cho nhiều không gian diễn xướng sử thi Tây Nguyên bị thu hẹp dần, thậm chí có không gian đã mất đi vĩnh viễn. Những đêm hát kể sử thi đã không còn được cộng đồng buôn làng quan tâm tổ chức thường xuyên, thậm chí nhiều buôn làng ở Tây Nguyên hiện không còn nghệ nhân biết hát kể sử thi. Sử thi Tây Nguyên từ đó rơi rớt, xa dần đời sống văn hóa tinh thần của buôn làng.

Lễ hội đua voi của tỉnh Đắc Lắc là một trong những không gian hát kể sử thi. Ảnh: Bình Định

Trao đổi với chúng tôi xung quanh việc bảo tồn, phát huy giá trị sử thi Tây Nguyên trong đời sống văn hóa tinh thần người dân Tây Nguyên hiện nay, đồng chí Bùi Văn Khối, Trưởng phòng Nghiệp vụ Văn hóa (Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Đắc Lắc) lo ngại: Điều đáng lo nhất hiện nay là số nghệ nhân biết hát kể, có khả năng phiên âm, biên dịch, chuyển ngữ sử thi Tây Nguyên còn quá ít ỏi và hầu hết đã ở cái tuổi “xưa nay hiếm”. Nên, nếu chúng ta không tranh thủ sưu tầm những tác phẩm sử thi còn lại trong trí nhớ của các nghệ nhân, thì sẽ không còn cơ hội. Vì vậy, việc làm cấp thiết hiện nay là trên cơ sở 368 nghệ nhân biết hát kể sử thi Tây Nguyên đã được lập hồ sơ đề nghị phong tặng Danh hiệu “Nghệ nhân dân gian”, ngành văn hóa các tỉnh Tây Nguyên cần thống kê lại xem hiện nay ai đã về tổ tiên, ai còn sống, để tranh thủ sự hỗ trợ của các nghệ nhân khi mà thời gian, sức khỏe và trí tuệ của họ còn cho phép. Chẳng hạn, với trường hợp nghệ nhân Điểu K’lung, người M’nông ở buôn Tul A, xã Ea Wer, huyện Buôn Đôn (tỉnh Đắc Lắc) thuộc và nhớ gần 200 sử thi M’nông, nhưng chúng ta mới sưu tầm được 50 sử thi, hiện còn gần 150 sử thi chưa được sưu tầm, nếu chúng ta không khẩn trương thì sẽ muộn. Thật đáng tiếc, nếu để hàng trăm tác phẩm sử thi Tây Nguyên vĩnh viễn theo các nghệ nhân về trời(!).

Bên cạnh đó, cần tranh thủ những nghệ nhân, người cao tuổi trong buôn làng biết hát kể sử thi để mở các lớp truyền dạy hát kể sử thi cho thế hệ trẻ, tạo cho họ có cơ hội tìm hiểu giá trị của sử thi, từ đó thổi vào tâm hồn lớp trẻ ngọn lửa say mê vốn văn hóa dân gian quý báu của tổ tiên để lại. Tại tỉnh Đắc Lắc mấy năm gần đây, một số buôn làng đã đứng ra tổ chức các lớp truyền dạy sử thi, kết quả đã có hàng chục thanh thiếu niên biết hát kể sử thi nhờ sự chỉ bảo nhiệt tình của các nghệ nhân như Điểu K'lung, buôn Tul A, xã Ea Wer, huyện Buôn Đôn; Y Wang Hwing, buôn Tria, xã Ea Tul, huyện Cư M'gar. Về công tác truyền dạy sử thi cho thế hệ trẻ, nghệ nhân Y Wang trăn trở: "Thế hệ trẻ ngày nay không đam mê sử thi cũng là do ngay từ nhỏ họ đã không có điều kiện tiếp xúc, tìm hiểu sử thi như thế hệ cha ông. Và bởi, buôn làng bây giờ đã không còn những đêm lễ hội, những đêm rượu cần tràn ngập lời kể Khan như trước đây. Vì vậy, cần phải tổ chức các lớp tìm hiểu ý nghĩa và truyền dạy sử thi”. Nghệ nhân Y Wang cũng cho biết, ông cùng nghệ nhân Ae Pih đã truyền dạy sử thi Ê đê cho 12 thanh niên xã Ea Tul.

Phục dựng lễ hội truyền thống sẽ tạo không gian diễn xướng sử thi Tây Nguyên. Ảnh: Chính Hữu

Cùng với việc sưu tầm, truyền dạy hát kể sử thi, các tỉnh Tây Nguyên cần tập trung khôi phục không gian diễn xướng sử thi, như không gian rừng thiêng, nương rẫy, nhà dài, nhà rông, nhà mồ, bến nước, lễ hội. Một thực tế đáng báo động là, lâu nay do tác động của cuộc sống hiện đại, khiến không gian diễn xướng sử thi Tây Nguyên thu hẹp dần. Nhiều buôn làng đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ không còn nếp nhà dài, không còn bến nước, không còn chiêng, không gian rừng thiêng bị tàn phá, các lễ hội cũng mai một. Trong khi đó diễn xướng sử thi Tây Nguyên tất yếu phải có không gian, lời diễn xướng mới có hồn, mới đi vào lòng người. Đây cũng chính là sự độc đáo, sức hấp dẫn và lan tỏa của sử thi Tây Nguyên. Trao đổi với chúng tôi, ông Y Wái Byă, Giám đốc Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch Đắc Lắc cho biết: Thống kê mới đây tại 587 buôn của người đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ toàn tỉnh Đắc Lắc hiện có 2.307 bộ chiêng, 220 bến nước, 2.608 nhà dài, 863 người biết nói lời nói vần (hát kể sử thi, hát dân ca). Thời gian tới, ngành văn hóa Đắc Lắc tiếp tục công việc phục dựng lễ hội truyền thống, phục dựng bến nước, xây mới nhà văn hóa cộng đồng, sẽ tạo ra những không gian phù hợp cho tổ chức lễ hội và diễn xướng sử thi. Đồng chí Bùi Văn Khối còn nêu kiến nghị, nên đưa việc bảo tồn văn hóa các dân tộc thiểu số, trong đó có sưu tầm sử thi, bảo tồn không gian diễn xướng sử thi thành một tiêu chí để đánh giá, công nhận “buôn văn hóa”.

Để đưa sử thi đi vào đời sống văn hóa tinh thần của người Tây Nguyên, ý kiến của những người làm công tác nghiên cứu và quản lý văn hóa cho rằng: Đối với 75 bộ sách sử thi Tây Nguyên in song ngữ Việt và tiếng các dân tộc thiểu số đã được xuất bản và 21 tác phẩm đang chuẩn bị xuất bản, cần tiếp tục biên tập thành những tập truyện tranh mỏng, cung cấp cho các trường học vùng dân tộc thiểu số tại chỗ, phục vụ đối tượng là bạn đọc thiếu nhi các dân tộc Tây Nguyên. Chuyển bộ sử thi từ sách qua băng, đĩa CD cấp cho các buôn làng để phát thường xuyên trên hệ thống đài truyền thanh phục vụ bà con. Thậm chí, có thể đầu tư kinh phí chuyển thể các bộ sử thi từ “lời Khan” thành phim hoạt hình, phim truyện, công chiếu rộng rãi trên truyền hình, hoặc trong các buổi chiếu phim tại buôn làng. Nên chọn hát kể sử thi Tây Nguyên là loại hình nghệ thuật đưa vào các cuộc liên hoan dân ca, dân vũ trong nước, khu vực và quốc tế nhằm giới thiệu rộng rãi tới cộng đồng thế giới về sự đồ sộ, phong phú, độc đáo của sử thi Tây Nguyên. Tiếp tục tổ chức những hội thảo khoa học mang tầm khu vực và quốc tế về sử thi Tây Nguyên. Mở rộng giao lưu văn hóa quốc tế, tạo thêm cơ hội để cộng đồng quốc tế tiếp cận, hiểu rõ giá trị văn hóa to lớn của sử thi Tây Nguyên. Qua đó, tạo sự đồng thuận, thống nhất cao khi các tỉnh Tây Nguyên và Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch trình UNESCO công nhận Nghệ thuật truyền khẩu sử thi Tây Nguyên là di sản Văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Bài và ảnh: KIỀU BÌNH ĐỊNH

Bài 1: Công tác sưu tầm, nghiên cứu