Sự ra đời của NVHCĐ đã phần nào đáp ứng nhu cầu đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân, nhưng không ít NVHCĐ trên địa bàn Tây Nguyên hoạt động chưa hiệu quả do nhiều nguyên nhân. Vệt bài dưới đây phần nào làm sáng tỏ vấn đề này.

Bài 1: Góp phần khôi phục văn hóa truyền thống

Đáp ứng tâm tư, nguyện vọng của nhân dân

Tây Nguyên gồm 5 tỉnh: Đắc Lắc, Đắc Nông, Gia Lai, Kon Tum và Lâm Đồng, có diện tích tự nhiên hơn 54.000km2, dân số hơn 5,6 triệu người; trong đó khoảng 2 triệu đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở 2.800 thôn, buôn. Về đời sống kinh tế, so với mặt bằng chung của cả nước thì Tây Nguyên là vùng khó khăn. Năm 2016, thu nhập bình quân đầu người đạt 39,56 triệu đồng, tỷ lệ hộ nghèo còn 15% và 4,5% hộ cận nghèo. Thế nhưng, vùng đất Tây Nguyên lại chứa đựng đời sống văn hóa, tinh thần hết sức đặc sắc và phong phú. Nơi đây có Không gian văn hóa cồng chiêng vinh dự được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại ngày 15-11-2005; có kho tàng sử thi Tây Nguyên đồ sộ và độc đáo cùng những lễ hội, những làng nghề truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa vùng miền. Tuy nhiên, do những tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường, sự du nhập của văn hóa ngoại lai khiến văn hóa truyền thống của vùng đất Tây Nguyên đang dần bị mai một.

Trước thực trạng trên, thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 18-1-2002 của Bộ Chính trị (khóa IX) về phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm quốc phòng-an ninh vùng Tây Nguyên thời kỳ 2001-2010 và Kết luận số 12-KL/TW, ngày 24-10-2011 của Bộ Chính trị (khóa XI) về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX) phát triển vùng Tây Nguyên thời kỳ 2011-2020, Đảng, Nhà nước đã quan tâm đầu tư nguồn lực lớn để các tỉnh Tây Nguyên đẩy mạnh phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo và thực hiện nhiều chương trình, mục tiêu chăm lo đời sống văn hóa tinh thần cho nhân dân.

leftcenterrightdel
 Nhà văn hóa cộng đồng ở Kon Tum-nơi tổ chức Liên hoan Nghệ thuật dân gian Tây Nguyên lần thứ 3-2016. 
Xác định văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số luôn là di sản quý giá góp phần làm nên sự phong phú, đa dạng và thống nhất của nền văn hóa Việt Nam, bằng sự cụ thể hóa các chính sách của Đảng, Nhà nước, từ năm 2002 đến nay, các tỉnh Tây Nguyên đẩy mạnh đầu tư xây dựng NVHCĐ nhằm mục đích tạo dựng không gian sinh hoạt văn hóa tinh thần cho cộng đồng các buôn làng. Tùy vào từng dân tộc thiểu số bản địa mà NVHCĐ được xây dựng theo kiến trúc khác nhau. Với các dân tộc Ê Đê, M'Nông định cư ở Nam Tây Nguyên thì NVHCĐ được xây dựng theo kiến trúc nhà dài. Còn với các dân tộc Ba Na, Gia Rai, Giẻ Triêng ở các tỉnh Lâm Đồng, Gia Lai, Kon Tum thì NVHCĐ có kiến trúc của nhà Rông như hình lưỡi rìu dựng ngược, nên bà con bản địa quen gọi là “nhà Rông văn hóa”. Đặc điểm chung của NVHCĐ là được xây dựng ở vị trí đắc địa nhất của buôn làng, thường là ở giữa hoặc đầu buôn, thôn để thuận tiện cho bà con đến sinh hoạt. Nhiều buôn, làng ở Tây Nguyên còn coi NVHCĐ là “ngôi nhà thiêng” để qua đó gửi gắm đến thế giới thần linh những tâm tư, nguyện vọng của con người.

 

NVHCĐ của đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên được ví như đình làng của người Kinh ở Đồng bằng Bắc Bộ. Một thôn, buôn có đời sống văn hóa tinh thần ra sao, sẽ được thể hiện khá đậm nét ở NVHCĐ. Qua những lần tham gia các lễ hội của đồng bào Tây Nguyên, chúng tôi được biết, ở những thôn, buôn mà NVHCĐ hoạt động có hiệu quả, bà con thường chọn những vị trí trang trọng nhất trong NVHCĐ để treo cờ Tổ quốc, treo ảnh và đặt tượng Bác Hồ, đồng thời sử dụng khuôn viên NVHCĐ làm nơi tổ chức chào cờ hằng tuần, hằng tháng, hoặc đón tiếp các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước; nơi để bà con quán triệt, tiếp thu các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương và của cấp ủy, chính quyền địa phương.

Trao đổi với chúng tôi, đồng chí Đặng Gia Duẩn, Phó giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắc Lắc cho biết: Chủ trương đầu tư xây dựng NVHCĐ cho các buôn đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên là rất đúng đắn, phù hợp với tâm tư nguyện vọng của nhân dân. NVHCĐ chính là thiết chế văn hóa cơ sở, nơi sinh hoạt, hội họp, vui chơi, giải trí và tiếp nhận thông tin của buôn làng. NVHCĐ có vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần và sinh hoạt chính trị của đồng bào các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên. Đặc biệt, từ khi xây dựng NVHCĐ, nhiều buôn làng ở Tây Nguyên đã có điều kiện để phục dựng các lễ hội truyền thống, khôi phục những vật dụng, nhạc cụ của dân tộc mình. Cụ thể, NVHCĐ trở thành nhà lưu giữ chiêng, ché, trống, ghế Kpan, vật dụng săn bắt thuần dưỡng voi rừng, công cụ dệt thổ cẩm, làm gốm; là không gian tổ chức lễ hội, lớp học cộng đồng, dệt thổ cẩm, diễn tấu cồng chiêng, hát kể sử thi Tây Nguyên, giao lưu văn nghệ, thể thao và đón tiếp khách quý của buôn làng. Đây cũng là không gian linh thiêng để già làng và cộng đồng tổ chức kiểm điểm và cảm hóa những người con của buôn làng lỡ lầm đường lạc lối, bị kẻ xấu lừa phỉnh, lôi kéo gây rối an ninh chính trị, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Những tín hiệu vui

Theo thống kê của ngành văn hóa các tỉnh Tây Nguyên, đến thời điểm hiện tại, toàn vùng đã xây dựng được 2.341 NVHCĐ cho buôn làng đồng bào dân tộc thiểu số, với tổng kinh phí đầu tư hơn 300 tỷ đồng từ nguồn ngân sách Nhà nước, bình quân 100-150 triệu đồng/nhà. Cụ thể, tỉnh Đắc Lắc có 588/609 buôn, thôn dân tộc thiểu số tại chỗ xây dựng NVHCĐ; Gia Lai xây dựng 749 NVHCĐ; Kon Tum có 424/593 thôn, buôn đồng bào dân tộc thiểu số có NVHCĐ; Lâm Đồng có 293/383 thôn, làng đồng bào dân tộc thiểu số có NVHCĐ và tỉnh Đắc Nông xây dựng được 136 NVHCĐ cho các thôn, buôn. Ngoài việc đầu tư xây dựng NVHCĐ, nhiều địa phương còn bảo đảm kinh phí, hoặc huy động từ nguồn xã hội hóa cho việc mua sắm trang thiết bị, các thiết chế văn hóa phù hợp, tạo điều kiện cho nhà văn hóa hoạt động như: Cờ Tổ quốc, Quốc hiệu, ảnh-tượng Bác Hồ, dàn âm thanh, ti vi, bàn ghế, cồng chiêng, ghế Kpan, tủ sách...; xây dựng tường rào, nhà vệ sinh, bồn nước, chi trả tiền điện, nước và kiện toàn Ban chủ nhiệm.

Điều đáng ghi nhận, có địa phương mới thành lập còn nhiều khó khăn như tỉnh Đắc Nông, nhưng cũng đã quan tâm chăm lo giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, điển hình là huyện biên giới Cư Jút. Đồng chí Hà Văn Tài, Phó trưởng phòng Văn hóa-Thông tin huyện Cư Jút cho biết: Đến nay, 10/10 buôn đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ đã được đầu tư xây dựng NVHCĐ. Các NVHCĐ đều có Ban chủ nhiệm do cán bộ buôn kiêm nhiệm. Năm 2016, UBND huyện đã đầu tư xây dựng tường rào, cổng, công trình vệ sinh; các thiết chế, vật dụng bảo đảm cho NVHCĐ hoạt động đều được trang bị khá đầy đủ. Nhờ vậy, hoạt động của NVHCĐ ngày càng phong phú, thu hút đông đảo bà con tham gia, góp phần tích cực vào khôi phục, phát huy văn hóa truyền thống của đồng bào”.

Theo đồng chí Phạm Thị Trung, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Kon Tum, đến nay toàn tỉnh có tổng số 424 NVHCĐ, trong đó có 3 NVHCĐ của các huyện Sa Thầy, Đắk Tô, Tu Mơ Rông và 421 NVHCĐ/593 làng dân tộc thiểu số. Nhìn chung NVHCĐ ở Kon Tum được đầu tư xây dựng số lượng ít hơn một số địa phương khác, kinh phí phần lớn huy động từ nguồn xã hội hóa của các cơ quan, đơn vị và đóng góp của nhân dân, nhưng đa số các NVHCĐ đều phát huy hiệu quả hoạt động, góp phần tích cực vào việc xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư, bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, nâng cao mức hưởng thụ tinh thần của các tầng lớp nhân dân, nhất là đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số.

(còn nữa)

Bài và ảnh: BÌNH ĐỊNH - TIẾN DŨNG