 |
Bắc Sơn là một huyện có nhiều dãy núi đá vôi thuộc tỉnh Lạng Sơn, cách Hà Nội khoảng 200 km. Đây là một trong những địa chỉ của nền Văn hóa Bắc Sơn thuộc thời kỳ đồ đá sơ kỳ. Văn hóa Bắc Sơn nảy sinh từ trong lòng Văn hóa Hòa Bình, các di tích được phát hiện trong các hang động vùng núi đá Bắc Sơn. Nó cho thấy, các bộ lạc Bắc Sơn sống chủ yếu trong hang động và mái đá vùng núi đá vôi. Họ vẫn giữ truyền thống chế tác công cụ bằng đá cuội đã phát triển từ Văn hóa Sơn Vi qua Văn hóa Hòa Bình. Trong các hang động Bắc Sơn, vẫn còn gặp các công cụ đá kiểu Hòa Bình. Nhưng chủ nhân Văn hóa Bắc Sơn đã đạt được một thành tựu lớn trong kỹ thuật chế tác công cụ: đã biết mài đá. Đã tìm thấy nhiều bàn mài, tức những hòn đá mài, bằng sa thạch, dùng để mài rìu trong các địa điểm Văn hóa Bắc Sơn. Rìu Bắc Sơn tìm thấy trong lớp đất có niên đại các bon phóng xạ cách ngày nay khoảng một vạn năm. Một thành tựu kỹ thuật mới của cư dân Bắc Sơn là chế tác đồ gốm. Đồ gốm Bắc Sơn có miệng loe và đáy tròn. Người Bắc Sơn đã có nhiều đồ trang sức, vỏ ốc biển xuyên lỗ, trang sức bằng đá phiến có lỗ đeo và những chuỗi hạt bằng đất nung, hình trụ hay hình thoi, giữa có xuyên lỗ… Những hiện vật trên cho thấy, Văn hóa Bắc Sơn đã tồn tại cách đây từ 1 vạn đến 8 nghìn năm.
Thời hiện đại, Bắc Sơn là nơi diễn ra cuộc khởi nghĩa chống Pháp (27-9/28-10-1940) do Đảng bộ Đảng Cộng sản Đông Dương châu Bắc Sơn lãnh đạo. Nhân thời cơ phát xít Nhật đánh chiếm Lạng Sơn (22-9-1940), quân Pháp rút chạy qua Bắc Sơn về Thái Nguyên, chính quyền của địch ở đây lung lay, quần chúng một số nơi nổi dậy, chống lại sự cướp bóc của tàn binh Pháp, Đảng bộ Bắc Sơn quyết định phát động khởi nghĩa. Sau trận phục kích ở đèo Canh Tiêm (diệt một lính Pháp và một xe vũ khí), đêm 27-9, lực lượng tự vệ cùng hàng trăm quần chúng (có một số lính dõng tham gia) đánh chiếm đồn Mỏ Nhài, giải phóng châu lỵ Bắc Sơn, xóa bỏ chính quyền địch. Trước tình hình đó, Nhật thỏa hiệp để Pháp chiếm lại Bắc Sơn, đàn áp cuộc khởi nghĩa. Xứ ủy Bắc Kỳ cử đồng chí Trần Đăng Ninh về Bắc Sơn tham gia lãnh đạo giữ vững phong trào cách mạng. Sau hội nghị Sa Khao (14-10), Chiến khu Bắc Sơn và Đội du kích Bắc Sơn được thành lập, làm chỗ dựa cho quần chúng đấu tranh chống khủng bố, diệt trừ phản động. Du kích đánh chiếm Khôn Ràng, Vũ Lăng (25-10) gây tiếng vang lớn. Đội du kích Bắc Sơn vừa đánh giặc vừa phát triển lực lượng lên tới 200 người. Ngày 28-10, Đội tổ chức cuộc mít tinh quần chúng ở Vũ Lăng để chuẩn bị thành lập chính quyền cách mạng. Do thiếu cảnh giác, cuộc mít tinh đã bị quân Pháp đàn áp, khủng bố dã man, du kích phải phân tán trong dân hoặc rút vào rừng. Sau khi cuộc khởi nghĩa thất bại, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VII quyết định tiếp tục duy trì lực lượng vũ trang Bắc Sơn và tiếp tục xây dựng các đội du kích thành nòng cốt cho cuộc chiến đấu của nhân dân chống khủng bố. Căn cứ cách mạng Bắc Sơn-Võ Nhai được thành lập để chuẩn bị đón thời cơ khi cách mạng chín muồi. Mặc dù thất bại do thời cơ cách mạng cả nước chưa chín muồi nhưng khởi nghĩa Bắc Sơn để lại nhiều bài học về thực hành khởi nghĩa, xây dựng căn cứ địa cách mạng và lực lượng vũ trang, mở đầu thời kỳ mới của cách mạng Việt Nam, thời kỳ đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang và khởi nghĩa vũ trang để giành chính quyền.
Ngày nay, Bắc Sơn là một trong những địa chỉ lưu giữ nền Văn hóa Bắc Sơn, đồng thời là nơi bảo tồn các di tích cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Thu Trang