 |
|
Ảnh minh họa. Nguồn Internet
|
QĐND Online - “Giờ đây anh không còn là thằng cu tí ngày nào, nên trong mắt anh, ao làng chật hẹp hơn cũng là điều dễ hiểu”- có lần, khi tôi thắc mắc, rằng hình như ao Chùa đang dần bị thu hẹp hơn so với ngày xưa, mẹ đã bảo tôi như vậy. Rồi bà buông ánh nhìn về nơi những vạt đất vườn đang liếm dần về phía lòng ao, hình như bà đang theo đuổi suy nghĩ gì đó mông lung lắm…
Ao Chùa nằm ngay giữa xóm tôi, đó là nơi tôi và những đứa trẻ ở cái xóm Chùa này gắn bó cả quãng thời thơ ấu. Ngày ấy, mỗi buổi trưa, chỉ chờ đến lúc bố mẹ thiu thiu ngủ, lũ chúng tôi lại huýt sáo gọi nhau tụ tập bên bờ ao. Đứa mải mê với chiếc cần câu, săn tìm những con cá cờ có cái đuôi dài tua rua nhiều màu sắc. Có đứa lại lăm lăm chiếc cần tre, đầu có buộc chiếc thòng lọng làm từ sợi tơ bẹ chuối, rượt theo những con chuồn chuồn ớt, chuồn chuồn chúa. Mà ngày ấy ở quê tôi sao nhiều chuồn chuồn đến thế…
Bên bờ ao nhà ông Kha, nơi gốc sung cổ thụ ngày xưa đổ xoài ra giữa mặt ao nay đã được kè bằng đá hộc. Cũng nhờ bấu víu vào những cành sung đổ trùm lên mặt ao ấy quẫy đạp mà tôi đã biết bơi. Điều ấy làm mẹ tôi hết sức bất ngờ bởi bà đã cấm tiệt, không cho tôi bén mảng đến bờ ao khi tôi hé lộ ý định tập bơi. Mẹ tôi vốn kỹ tính, thêm nữa, vì tôi là con cầu tự, mà bà lại nghe người ta bảo “Con cầu tự phải trông nom cẩn thận, không khéo….”, nên bà kiên quyết không cho tôi tập bơi vì sợ tôi…chết đuối. Nhìn bờ đá kè sát mép ao tuy có sạch sẽ hơn bờ đất mấp mô, long lở thủa xưa, song tôi vẫn thấy thiêu thiếu một cái gì đó thật khó diễn đạt thành lời.
Ngày ấy, những đêm hè nóng nực, bờ ao Chùa là nơi bà con xóm tôi mang chiếu ra trải, nằm hóng gió. Khi người lớn hàn huyên chuyện làng, chuyện xóm thì lũ trẻ chúng tôi tưng bừng với màn ném “pháo hoa”. Cái mà chúng tôi gọi là “pháo hoa” ấy, thực ra là một cục đất hình ống, một đầu được dỗ bằng, đầu còn lại nhồi bọc giấy, gói trong đó là bột được giã nhỏ từ thân cây điền thanh đã được đốt cháy thành than. Chỉ cần châm lửa vào cái bọc giấy ấy, thổi cho cháy hồng, rồi dùng hết sức ném mạnh lên khoảng không trung trên mặt ao, tàn lửa bay ra sáng rực, soi lấp lánh xuống làn nước lăn tăn trong gió hè, rồi tất cả lũ trẻ dỏng tai lên nghe cái tiếng bòm bõm phát ra sau khi thân “pháo hoa” rơi xuống nước. Cái âm thanh ấy giờ đây vẫn còn đọng trong ký ức tôi rõ lắm.
Quê tôi giờ đã có điện. Đêm đến, nhà nào nhà ấy quây quần trước ti vi, và ngay bên cạnh là những chiếc quạt điện to, nhỏ xối gió mát rượi. Chuyện ngồi ao hóng mát, trò chuyện tào lao trong những đêm hè ngày nào, nay chỉ còn là những hoài niệm đối với người lớn. Còn với bọn trẻ mới lớn thì đó là những chuyện chúng không thể hình dung ra được.
Mẹ tôi nói vậy thôi, chứ chắc bà cũng biết ao Chùa đang bị thu hẹp dần là sự thật. Tôi đã đọc được điều đó trong ánh nhìn xa xăm của bà. Bên chiếc ao ấy, những mảnh vườn của nhiều gia đình cứ lớn dần lên, và đồng nghĩa với nó là ao Chùa ngày càng nhỏ đi, khác hẳn với cái không gian rộng lớn, đem đến cho tôi cảm giác choáng ngợp mặc dù mình đã biết bơi, và hai tay còn ôm chiếc chậu nhôm to tướng mỗi khi đi tắm ao như thủa nào. Thì ra, đâu phải chỉ ở thành phố, ở nông thôn cũng vậy, ai cũng muốn cơi nới cho cái không gian nhà mình thêm rộng rãi, “tất đất tấc vàng” mà.
Ở xóm tôi, giờ đây cũng chẳng còn đứa trẻ nào có đủ can đảm để tắm ao Chùa, bởi ao đã được dân trong làng đấu thầu nuôi cá. Mà thức ăn cho cá thì đủ loại, có lẽ vì thế mà nước ao luôn có màu xanh rêu nhờ nhợ, không còn trong vắt như xưa.
Đời sống người dân quê tôi nay đã khấm khá lên nhiều, nên không chỉ đường làng, mà đường quanh ao cũng đã được bê tông hóa, bờ ao nhiều đoạn đã được kè, không còn những búi tre xào xạc trong gió chiều. Quê hương đổi mới, đứa con xa xứ như tôi thấy lâng lâng phấn khởi. Song dường như trong tôi còn có cả nỗi niềm bâng khuâng, nhung nhớ. Đó là nỗi nhớ về cái không gian mênh mông của ao Chùa ngày nào, nhớ những đốm lửa lấp lánh của “pháo hoa”, và cả những câu chuyện rôm rả của người dân xóm tôi quanh bờ ao trong những đêm oi nồng mùa hạ…
Tản văn của Hà Phạm