“Sự hồi đáp” được anh trình bày một cách khéo léo, chỉn chu, kỹ lưỡng, bài bản, khoa học trong 567 trang sách, giúp người đọc nắm được cơ sở cải biên/chuyển thể, sự tác động, tương hỗ, tái tạo qua lại giữa truyện ngắn và điện ảnh, cũng như vai trò của người tiếp nhận.

Chuyên luận của Nguyễn Văn Hùng gồm có 8 chương nghiên cứu chuyên sâu theo lý thuyết tự sự học. Trên cái lõi lý thuyết tự sự học văn học và điện ảnh, anh còn vận dụng nhiều lý thuyết như: Chuyển thể/cải biên học, phiên dịch học, liên văn bản, văn hóa học, giải cấu trúc/giải kiến tạo, phê bình cổ mẫu, phê bình ký hiệu học,... để chỉ rõ cơ chế liên đới giữa truyện ngắn và điện ảnh. Ở mỗi hệ quy chiếu, các phương pháp phê bình được anh sử dụng đậm nhạt khác nhau. Những điểm chung, riêng của truyện ngắn và điện ảnh được anh đánh giá, so sánh, lồng ghép dựa trên sự khảo sát các dẫn chứng tiêu biểu, sinh động. Anh khảo sát kỹ các truyện ngắn nổi tiếng được chuyển thể sang tác phẩm điện ảnh như: “Cỏ lau”, “Khách ở quê ra”, “Thương nhớ đồng quê”, “Ba người trên sân ga”, “Ngôi nhà xưa”, “Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành”, “Tiếng đàn môi sau bờ rào đá”, “Trăng nơi đáy giếng”, “Mười ba bến nước”, “Tâm hồn mẹ”, “Đảo của dân ngụ cư”, “Cha cõng con”...

Theo thống kê của Nguyễn Văn Hùng, có 44 phim chuyển thể từ tác phẩm văn học, chiếm 42%, nhưng trong đó, truyện ngắn đã chiếm gần 64%. Với tính chất động (biến đổi, biến hóa) và mở (phối kết với các thể loại khác) của truyện ngắn, Nguyễn Văn Hùng so sánh vẻ đẹp của nó như vẻ đẹp “sống động” của cô bé Lọ Lem. Anh khẳng định, với đặc điểm ngắn gọn, súc tích, nhiều chi tiết bùng nổ bất ngờ, bảo đảm độ căng, đáp ứng thông tin kịp thời, nhập cuộc nhanh... cho nên, truyện ngắn được xem là “nguồn dưỡng chất cho sáng tạo điện ảnh”, là sản phẩm để các nhà làm phim chuyển thể/cải biên hơn nhiều thể loại khác.

Nguyễn Văn Hùng đã chỉ ra những điểm đồng nhất, tương đồng và khác biệt giữa truyện ngắn và điện ảnh thông qua các hệ quy chiếu: Cốt truyện, chi tiết nghệ thuật, khu vực ngoài cốt truyện, nhân vật, không gian, phương thức trần thuật, ngôn ngữ. Bàn về tái cấu trúc đường dây cốt truyện, anh chỉ ra đường dây cốt truyện nào đi vào, biến đổi, mở rộng, lược bỏ, tái hồi trong điện ảnh. Anh cho rằng, nhà văn và nhà biên kịch, đạo diễn phim đều quan tâm đến cốt truyện, vì đó là cái khung, cái lõi cấu thành tác phẩm. Khi chuyển thể, từ tác phẩm văn học qua tay nhà biên kịch, nhà đạo diễn, truyện ngắn được “nhào nặn” đến nhiều lần, đã xuất hiện với một diện mạo khác, thậm chí một cấu trúc khác, bởi yếu tố cải biên, bởi chuỗi ký hiệu mới, nhằm phù hợp với môi trường văn hóa, thị hiếu tiếp nhận... Nhà biên kịch, nhà đạo diễn nhiều khi đẩy tác phẩm ra xa bản gốc, chỉ lấy một số điểm đinh, sáng, rồi gia cố, xử lý, thêm thắt.

Giữa truyện ngắn và điện ảnh có mối quan hệ đặc biệt, xuyên thấm, cộng sinh, bổ trợ cho nhau, chứ không phải tồn tại theo hai đường thẳng song song. Từ góc nhìn song hành, người đọc thấy vai trò, sự ảnh hưởng, tác động hết sức quan trọng của truyện ngắn đối với việc xây dựng kịch bản và phim truyện điện ảnh chuyển thể. Một tác phẩm điện ảnh hay, có giá trị, chuyên nghiệp, không thể thiếu cái nền móng vững chắc của truyện ngắn. Nhưng điện ảnh còn chịu sự ảnh hưởng của các đường dây, vùng trời ngoài truyện ngắn được chuyển thể. Vận dụng phê bình liên văn bản, Nguyễn Văn Hùng chỉ ra tính đối thoại vô tận giữa văn bản văn học (truyện ngắn) và văn bản điện ảnh ở cấp độ: Nhan đề, poster, trailer, danh sách đoàn làm phim, văn bản ngoài cốt truyện phim. Khi chuyển thể nàng Lọ Lem, Nguyễn Văn Hùng thống kê, có 2/3 tác phẩm giữ nguyên nhan đề, 1/3 thay đổi nhan đề, với nhiều xu hướng: Tái sử dụng toàn bộ hoặc một phần và thay đổi hoàn toàn, để phù hợp với ý đồ của nhà làm phim.

Trong mối quan hệ tương hỗ giữa truyện ngắn và điện ảnh, đòi hỏi nhà văn lẫn nhà làm phim ý thức lao động nghiêm túc, năng lực thẩm mỹ và tư duy nghệ thuật cao. Họ là những nghệ sĩ chân chính, chuyển tải sức sống của cái hay, cái đẹp và phát huy tính liên tưởng, sáng tạo của người tiếp nhận. Việc chọn lựa thủ pháp, phương tiện, kỹ thuật, kỹ xảo... luôn là những vấn đề quan trọng, góp phần kiến giải ý nghĩa và giá trị của câu chuyện “viết trên giấy trắng” hay “viết trên hình ảnh”. Giữa truyện ngắn và điện ảnh có sự gặp gỡ ở cách xử lý chi tiết nghệ thuật, đều kỵ “chất độn” và “sự thừa thãi”. Trong quá trình chuyển thể, chuyển dịch từ hệ thống ký hiệu của ngôn từ sang hệ thống ký hiệu của âm thanh, hình ảnh cùng với sự tác động của nhiều yếu tố khác, các chi tiết bao giờ cũng được xử lý theo nhiều cách: Chọn lọc giữ lại; bổ sung các chi tiết mới; cải tác, thay đổi các chi tiết cũ; kế thừa, sáng tạo chi tiết mở đầu và kết thúc; dựa trên nhiều chất liệu đến từ các nguồn văn bản khác nhau; cải tác các chi tiết bởi sự can thiệp của các thể chế chính trị, văn hóa, xã hội. Thành công của nhà văn hay nhà làm phim không chỉ thể hiện ở sự cọ xát giữa truyện ngắn và điện ảnh, đối thoại với các vỉa tầng văn hóa, các thiết chế quyền lực khác... mà còn phải hướng đến sự tương liên với người đọc/xem. 

Từ những yếu tố: Cốt truyện, chi tiết, khu vực ngoài cốt truyện, nhân vật, không gian, phương thức trần thuật, ngôn ngữ, Nguyễn Văn Hùng đã hồi đáp về sự thâm nhập, sự khác nhau giữa truyện ngắn và điện ảnh. Truyện ngắn và điện ảnh có vẻ đẹp, hình hài riêng nhưng luôn có sự tương tác, khúc xạ lẫn nhau. Điện ảnh không minh họa, sao chụp truyện ngắn, mà sự chủ động, linh hoạt, sáng tạo của nó đã góp phần chuyển tải, thăng hoa linh hồn của truyện ngắn. Điều đó cho thấy, sự thay đổi ít nhiều do đặc trưng loại hình nghệ thuật tổng hợp của điện ảnh, luôn tạo sự sống động và gia tăng ý nghĩa cho tác phẩm văn học. Khi bộ phim chuyển thể hết, không có nghĩa mọi thứ đã kết thúc, mà vẫn mở ra những khoảng trống vẫy gọi. Qua ngôn ngữ điện ảnh và tiếp nhận của người xem, truyện ngắn đã xuất hiện với tư cách là một chủ thể độc lập. Quen nhưng lạ. Bước ra khỏi văn bản, sinh thể truyện ngắn trở nên sống động và ý nghĩa hơn trong phim. Giá trị truyện ngắn được mở ra với vô vàn liên tưởng từ phía người xem.

Thạc sĩ HOÀNG THỤY ANH