Thực tiễn hơn một thập kỷ triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới cho thấy, diện mạo nông thôn Việt Nam nói chung, nông thôn miền núi tỉnh Điện Biên nói riêng đã có nhiều đổi thay rõ rệt.

Từ góc nhìn của người dân trực tiếp sinh sống, lao động và gắn bó với nông thôn tỉnh Điện Biên, chúng tôi cho rằng chủ trương của Đảng là rất đúng và trúng. Tuy nhiên, thực tế cũng đặt ra một vấn đề căn cốt: Nông thôn mới sẽ khó bền vững nếu sinh kế của người nông dân chưa thật sự ổn định, nếu thu nhập còn bấp bênh, đầu ra nông sản thiếu chắc chắn và rủi ro thị trường vẫn chủ yếu dồn lên vai người sản xuất nhỏ lẻ.

Ảnh minh họa: laodong.vn 

Những năm qua, nhiều vùng nông thôn ở tỉnh Điện Biên đã “thay da đổi thịt”. Đường giao thông được bê tông hóa, trường học, trạm y tế, nhà văn hóa được đầu tư khang trang; đời sống tinh thần của người dân từng bước được nâng lên. Tuy nhiên, phía sau bức tranh hạ tầng ấy, không ít nông dân vẫn canh cánh nỗi lo “được mùa mất giá”, “được giá mất mùa”. Có nơi đạt chuẩn nông thôn mới nhưng lao động nông thôn vẫn phải rời quê đi làm ăn xa; có sản phẩm nông nghiệp đạt chuẩn chất lượng nhưng tiêu thụ khó khăn do thiếu liên kết bền vững.

Thực tiễn tại Điện Biên cho thấy, dù thu nhập bình quân khu vực nông thôn đã được cải thiện qua từng năm, song vẫn ở mức thấp so với mặt bằng chung; sinh kế của người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, còn phụ thuộc lớn vào sản xuất nông nghiệp quy mô nhỏ. Toàn tỉnh hiện có hàng trăm hợp tác xã nông nghiệp, song không ít hợp tác xã hoạt động còn lúng túng, năng lực liên kết sản xuất, tiêu thụ còn hạn chế. Nhiều sản phẩm OCOP đã được công nhận, góp phần nâng cao giá trị nông sản địa phương, nhưng quy mô sản xuất nhỏ, thị trường tiêu thụ chưa ổn định, sức cạnh tranh còn yếu.

Chủ trương phát triển nông nghiệp bền vững, nâng cao thu nhập cho nông dân thông qua liên kết chuỗi giá trị, phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã kiểu mới đã được Đảng và Nhà nước xác định rõ trong nhiều nghị quyết. Tuy nhiên, trên thực tế, việc triển khai còn không ít “điểm nghẽn”. Nhiều mô hình liên kết mang tính phong trào, thiếu ràng buộc pháp lý chặt chẽ; khi thị trường biến động, người nông dân thường là bên chịu thiệt. Doanh nghiệp thì chưa thực sự mặn mà đầu tư lâu dài vào nông nghiệp, nhất là ở miền núi, do rủi ro cao và lợi nhuận thấp.

Từ thực tiễn đó, chúng tôi mong muốn trong nhiệm kỳ Đại hội XIV của Đảng, bảo đảm sinh kế bền vững cho nông dân cần được đặt ở vị trí trung tâm của xây dựng nông thôn mới, coi thu nhập ổn định là thước đo quan trọng phản ánh chất lượng nông thôn mới. Muốn vậy, cơ chế, chính sách và tiêu chí cần linh hoạt hơn, phù hợp hơn với điều kiện miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; đồng thời có chính sách mạnh và thực chất để thúc đẩy liên kết sản xuất, tiêu thụ, bảo vệ người sản xuất nhỏ.

Cùng với đó, cần tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể, hợp tác xã kiểu mới; tăng cường hỗ trợ nông dân về thông tin thị trường, khoa học-công nghệ, chuyển đổi số trong nông nghiệp. Nông thôn mới chỉ thực sự bền vững khi người nông dân yên tâm bám ruộng, sống được và làm giàu chính đáng trên chính mảnh đất của mình.