Tinh thần của Đại hội XIV càng nhấn mạnh ý chí tự lực, tự cường và khát vọng vươn lên, đặt kinh tế tư nhân cùng khoa học - công nghệ, chuyển đổi số vào vị trí những động lực then chốt tạo nên sức mạnh tổng hợp quốc gia, không chỉ cho tăng trưởng trước mắt mà còn cho nền tảng thực lực bền vững lâu dài.

Doanh nghiệp mạnh thì quốc gia thịnh

Nhìn lại hành trình gần 40 năm Đổi mới, vai trò của kinh tế tư nhân (KTTN) không còn dừng lại ở “thành phần bổ trợ” mà đã khẳng định vị thế là động lực quan trọng hàng đầu trong cấu trúc nền kinh tế Việt Nam. Từ những bước đi chập chững sau Luật Doanh nghiệp năm 1999, khu vực KTTN đã có sự tăng trưởng vượt bậc về cả quy mô lẫn chất lượng. Tính đến năm 2025, với gần 1 triệu doanh nghiệp, khoảng 5 triệu hộ kinh doanh cá thể, khu vực này hiện đóng góp khoảng 51% GDP, hơn 30% ngân sách nhà nước, tạo ra hơn 40 triệu việc làm, chiếm hơn 82% tổng số lao động trong nền kinh tế, đóng góp gần 60% vốn đầu tư toàn xã hội.

Bên trong Nhà máy ô tô Vinfast của Tập đoàn Vingroup. Ảnh: qdnd.vn 

Theo Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị và các định hướng chiến lược tại Đại hội XIV, KTTN được xác định là một động lực quan trọng nhất, là nòng cốt để thực hiện các mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tổng Bí thư Tô Lâm đã khẳng định KTTN chính là “đòn bẩy cho một Việt Nam thịnh vượng”, đóng vai trò then chốt trong việc huy động các nguồn lực xã hội để thực hiện những đột phá chiến lược. Đúng như tinh thần từ Nghị quyết 10-NQ/TW năm 2017 và những định hướng chiến lược của Tổng Bí thư Tô Lâm về kỷ nguyên vươn mình của dân tộc: Một nền kinh tế cường thịnh không thể chỉ dựa vào khu vực Nhà nước hay đầu tư nước ngoài, mà phải dựa vào nội lực là khu vực KTTN vững mạnh. Nói cách khác, nền kinh tế quốc gia chỉ thực sự cường thịnh khi toàn dân tham gia lao động tạo ra của cải vật chất, một xã hội mà người người, nhà nhà, ai cũng hăng say lao động…

Bài học từ các Chaebol (tập đoàn gia đình) của Hàn Quốc vẫn còn nguyên giá trị thời đại. Chính phủ Hàn Quốc những thập niên trước đã không ngần ngại đặt cược vào các tập đoàn tư nhân (như Samsung Electronics, Hyundai, Lotte) để tạo nên “Kỳ tích sông Hàn”. Israel có chương trình Yozma, với việc Chính phủ sẵn sàng bỏ vốn đối ứng cùng các quỹ đầu tư tư nhân để hỗ trợ startup công nghệ cao. Nếu doanh nghiệp thất bại, Nhà nước chịu rủi ro; nếu thành công, Nhà nước thoái vốn để doanh nghiệp phát triển. Tuy nhiên, khác với các mô hình kinh tế tư bản, KTTN tại Việt Nam phát triển trong khuôn khổ nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nơi kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Tinh thần trọng tâm của Văn kiện Đại hội XIV là sự chuyển đổi mạnh mẽ tư duy xây dựng pháp luật: Từ tư duy “quản lý” vốn thiên về kiểm soát và hạn chế, sang tư duy “kiến tạo và phục vụ” phát triển. Quyết tâm này được cụ thể hóa bằng việc gỡ bỏ tình trạng thể chế là “điểm nghẽn của điểm nghẽn”, chuyển đổi hệ thống pháp luật thành “đột phá của đột phá”. Thay vì đặt ra các rào cản, pháp luật mới hướng tới mục tiêu vừa quản lý tốt, vừa khơi thông mọi nguồn lực, tạo ra không gian vận động thông thoáng và an toàn cho doanh nghiệp.

Thời gian qua, những doanh nghiệp tiên phong như Vingroup, Thaco, FPT... đang thực hiện sứ mệnh nội địa hóa công nghệ, khẳng định năng lực quản trị của người Việt. Đồng thời, bài học từ sự thành công của các quốc gia đi trước cho thấy tầm quan trọng của vai trò Nhà nước trong việc dẫn dắt, tạo lập môi trường để khơi thông sức mạnh dân tộc thông qua khu vực tư nhân. Dẫu vậy, với Việt Nam, việc tranh thủ kinh nghiệm quốc tế không phải là sự sao chép máy móc mà phải được vận dụng phù hợp với điều kiện đất nước.

Sự lớn mạnh của các doanh nghiệp dân tộc không đơn thuần là sự tích lũy về vốn hay quy mô, mà phải là sự chuyển hóa thực chất thành năng lực tự chủ công nghệ và sức chống chịu của nền kinh tế trước những biến động toàn cầu. Do đó, phải gắn chặt sự phát triển của doanh nghiệp với hệ giá trị cốt lõi: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Vì thế, trong kỷ nguyên vươn mình, thành công của mỗi doanh nghiệp chỉ thực sự có giá trị khi nó trở thành một mắt xích bền bỉ trong chuỗi giá trị nội sinh, góp phần bảo đảm thực lực của chế độ và sự phồn vinh trường tồn của quốc gia. Đây chính là mối quan hệ biện chứng giữa lợi ích doanh nghiệp và vận mệnh dân tộc: Doanh nghiệp mạnh thì quốc gia thịnh; quốc gia ổn định và kiến tạo là bệ đỡ vững chắc nhất để doanh nghiệp vươn tầm thế giới.

Khoa học - công nghệ và chuyển đổi số - Nền tảng phát triển lực lượng sản xuất mới

Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, nếu thực lực kinh tế là nền tảng thì khoa học - công nghệ, chuyển đổi số chính là động lực then chốt nâng tầm vị thế dân tộc. Văn kiện Đại hội XIV đã xác lập một quan điểm chiến lược: “Lấy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính cho tăng trưởng”. Đây không đơn thuần là sự chuyển dịch về kỹ thuật, mà là một cuộc cách mạng về phương thức sản xuất hiện đại, nhằm giải phóng tối đa sức sản xuất của thời đại mới, đưa đất nước thoát khỏi sự phụ thuộc vào các giá trị gia công thấp.

Trọng tâm của chiến lược này là tranh thủ và làm chủ các công nghệ “xoay chuyển cục diện” như chip bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (A.I), dữ liệu lớn và hạ tầng 5G/6G. Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ rõ: “Chuyển đổi số không chỉ là công cụ, mà là phương thức mới để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại”. Nhận định này khẳng định chuyển đổi số phải thẩm thấu vào mọi hoạt động kinh tế, biến các tập đoàn nội địa trở thành những chủ thể dẫn dắt trong việc xác lập “chủ quyền số”. Việc làm chủ được “linh hồn” của máy móc và thuật toán không chỉ giúp doanh nghiệp Việt tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu mà còn là bước đi căn bản để bảo đảm sự độc lập, tự chủ của nền kinh tế trong kỷ nguyên số.

Nhìn sang Trung Quốc, một thí dụ điển hình là “Made in China 2025” - minh chứng hùng hồn cho khát vọng của Bắc Kinh thoát ly khỏi vị trí “gia công giá rẻ” để bước vào kỷ nguyên làm chủ công nghệ cao. Ưu điểm vượt trội của chiến lược này nằm ở tư duy huy động toàn lực quốc gia, dồn dịch nguồn lực tài chính và chất xám khổng lồ vào 10 lĩnh vực lõi như chip bán dẫn, A.I, và năng lượng xanh. Nhờ vậy, Trung Quốc không chỉ giảm bớt sự lệ thuộc vào các “điểm nghẽn” công nghệ phương Tây mà còn vươn lên dẫn dắt các tiêu chuẩn toàn cầu về 5G, xe điện và đường sắt cao tốc. Sự trỗi dậy của những “người khổng lồ” như Huawei hay BYD chính là trái ngọt của ý chí tự cường, giúp quốc gia này xác lập vững chắc chủ quyền số và tạo ra thế cân bằng chiến lược.

Ở góc độ thực thi, việc tận dụng hiệu quả thành tựu từ Đề án 06 về dữ liệu dân cư chính là bệ đỡ để Việt Nam tạo dựng môi trường quản trị quốc gia minh bạch, hiện đại, từ đó triệt tiêu các cơ hội gây lãng phí và tối ưu hóa nguồn lực cho phát triển. khoa học - công nghệ phải thực sự trở thành bộ phận cấu thành hữu cơ của sản xuất, trực tiếp thúc đẩy năng suất lao động tổng hợp (TFP) tăng trưởng bứt phá. Chỉ khi kiến tạo được một lực lượng sản xuất mới dựa trên chất xám và công nghệ, Việt Nam mới có đủ thực lực để vượt qua “bẫy thu nhập trung bình”, đưa nền kinh tế tiến mạnh vào hàng ngũ các quốc gia phát triển với tư thế tự lực, tự cường.

Xây dựng sức mạnh tổng hợp trên nền tảng kinh tế tri thức vững mạnh

Trong tư duy phát triển hiện đại, thực lực quốc gia không còn được đo đếm thuần túy bằng các chỉ số tăng trưởng bề nổi, mà nằm ở sự cộng hưởng giữa nội lực kinh tế và trình độ làm chủ khoa học kỹ thuật. Một nền kinh tế tự chủ phải lấy năng lực công nghệ tự cường làm “bệ đỡ” chiến lược, bảo đảm sự an toàn quốc gia từ sớm, từ xa trước những biến động khó lường của địa chính trị toàn cầu.

Việc tranh thủ và tận dụng tối đa thành tựu khoa học - công nghệ dân sự để thúc đẩy các ngành công nghiệp nền tảng như cơ khí chính xác, điện tử, vật liệu mới không chỉ là yêu cầu bứt phá năng suất lao động, mà là giải pháp căn cơ để kiến tạo sức mạnh nội sinh tổng hợp cho dân tộc.

Khi khu vực KTTN vươn lên làm chủ các công nghệ lõi và xác lập vị thế vững chắc trong chuỗi giá trị toàn cầu, chúng ta không chỉ giành lấy giá trị thặng dư cao mà còn nâng tầm tính tự chủ chiến lược, hóa giải hiệu quả các “điểm nghẽn” lệ thuộc vào nguồn cung từ bên ngoài. Tinh thần của Luật Công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên công nghiệp cần được vận dụng linh hoạt, hiệu quả theo tư duy phát triển công nghệ “lưỡng dụng”. Trọng tâm là việc tối ưu hóa tiềm lực của công nghiệp quốc phòng để lan tỏa, phục vụ hiệu quả cho phát triển dân sinh, tạo động lực cho các ngành kinh tế mũi nhọn; đồng thời xây dựng cơ chế để huy động nguồn lực trí tuệ và kỹ thuật của doanh nghiệp dân sự cho các nhiệm vụ quốc gia khi tình huống yêu cầu theo đúng quy định pháp luật.

Đột phá từ KTTN gắn liền với làm chủ công nghệ chính là cặp “cánh tay đòn” thực hiện thắng lợi mục tiêu tự chủ chiến lược. Thông điệp cốt lõi của Đại hội XIV đã rõ: Nội lực là quyết định, ngoại lực là quan trọng. Khi sức dân từ khối tư nhân được khơi thông hòa quyện cùng trí tuệ của cuộc cách mạng số, dân tộc Việt Nam sẽ có đầy đủ tầm vóc và tư thế để tự chủ vận mệnh, vững vàng tiến bước tới các mục tiêu phát triển đã xác định.