Có lẽ đã đến lúc không thể muộn hơn, chúng ta cần có đích nhắm, lộ trình với các giải pháp cùng nguồn lực bảo đảm, khả thi để hiện thực hóa mục tiêu giành 5 đến 7 HCV ASIAD, đứng trong tốp 15 toàn đoàn như trong Chiến lược Phát triển thể thao Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045.

Cầu mây nữ đột phá, bắn súng gây thất vọng

Với đoàn quân gồm 349 tuyển thủ tranh tài ở 33 môn, phân môn, TTVN nhắm tới đích giành từ 4 HCV trở lên. Có thể thấy đây là một mục tiêu khá khiêm tốn nhưng phù hợp với điều kiện, năng lực chuẩn bị cùng trình độ vận động viên hiện tại và có tính khả thi cao.

Sau 20 năm, cầu mây Việt Nam mới giành 2 huy chương vàng ở một kỳ ASIAD. Ảnh: BÙI LƯỢNG 

Kết thúc ASIAD 20, Đoàn TTVN chỉ giành được 3 HCV (2 của cầu mây nữ, 1 của đội hình kata đồng đội nữ môn karate), cùng 3 huy chương bạc, 19 huy chương đồng. Với kết quả này, chúng ta đã không chỉ hụt chỉ tiêu đặt ra mà còn trải qua một kỳ Á vận hội kém sút nhất cả về thành tích, chất lượng của những tấm huy chương và khả năng tranh tài, kể từ kỳ ASIAD 17 năm 2014.

So ngay với kỳ ASIAD 19 cũng không hoàn thành chỉ tiêu, TTVN tại ASIAD 20 cũng có 3 HCV song lại không có HCV nào ở môn Olympic, trong khi lại kém về tổng số huy chương (25 so với 27) hay số huy chương bạc (3 so với 5).

ASIAD 20 cũng cho thấy những điểm sáng của một số môn. Cầu mây nữ là môn thành công nhất, tạo dấu ấn và sức bật đặc biệt khi đoạt 2 HCV ở cả hai nội dung dự tranh. Đáng chú ý, môn này đã bảo vệ thành công ngôi đầu đội tuyển 4 người bằng một chiến thắng thuyết phục trước chính Thái Lan. Giờ đây cầu mây nữ Việt Nam đã hội đủ mọi yếu tố để có thể cạnh tranh sòng phẳng với người Thái, thậm chí còn có ưu thế và tính bản sắc trong tập luyện, thi đấu, lối chơi. Cùng đó, boxing nữ cũng có bước tiến vượt bậc khi lần đầu đoạt 2 huy chương, trong đó có huy chương bạc (HCB) lịch sử của Nguyễn Thị Tâm. Karate (1 HCV, 1 huy chương đồng) vẫn giữ được vị thế, cách làm riêng, cụ thể là phân đội kata nữ. Sau một kỳ Đại hội thất bại, wushu, nhất là đội hình đối kháng, cũng đã có sự trở lại mạnh mẽ.

Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, nhiều môn “mũi nhọn”, tuyển thủ “trọng điểm” ở các mức độ khác nhau đã gây thất vọng. Trong đó, bắn súng - môn được kỳ vọng nhất, gánh vác trọng trách giành từ 1 - 2 HCV đã chỉ giành 1 huy chương đồng (HCĐ) cho dù Đoàn TTVN sở hữu những niềm hy vọng sáng giá như Trịnh Thu Vinh, Phạm Quang Huy, và có tới 7 “cửa” được đánh giá đủ sức tranh huy chương. Cùng đó, điền kinh đặt đích 1 HCV, 1 HCB, 2 HCĐ cũng giành 1 HCĐ duy nhất. Rowing được kỳ vọng có thể tạo đột biến tranh HCV mà tầm mức cao nhất chỉ dừng lại ở HCĐ, ngay cả nội dung không có vận động viên Trung Quốc tham dự. 

Nhiều đội tuyển quốc gia ở một số môn truyền thống như bắn súng, điền kinh hay môn mới như MMA, Jujitsu đã bộc lộ hạn chế trong đánh giá đối thủ, tính toán điểm rơi, chuẩn bị tâm lý, lên phương án tranh tài. Tuy nhiên, mấu chốt vấn đề nẳm ở  khoảng cách về trình độ so với nhóm tranh chấp huy chương, đặc biệt HCV. Ngoại trừ cầu mây với hai nội dung của nữ, karate với nội dung đồng đội kata, TTVN không có nhóm môn (hay một vài môn) thế mạnh, nhóm tuyển thủ hàng đầu xuất sắc có thể tranh chấp sòng phẳng HCV.

Phía sau vị trí thứ 5 Đông Nam Á trên “đỉnh” châu lục

Với 3 HCV, TTVN tiếp tục có một thứ bậc thấp không chỉ trên bảng xếp hạng chung của ASIAD 20, mà còn so với chính các quốc gia trong cùng khu vực Đông Nam Á khi xếp sau tới 4 đoàn.

Điều đáng lo hơn phía sau những thứ hạng, qua Đại hội, chúng ta còn bị bỏ lại ngày càng xa về cả số lượng lẫn chất lượng của thành tích, khả năng tranh tài, nhất là đích nhắm Olympic. Nếu Việt Nam chỉ có 3 lần đăng quang ở 2 môn không phải Olympic thì Thái Lan (hạng 7, 18 HCV), Malaysia (hạng 11, 9 HCV), Indonesia (hạng 15, 5 HCV), Philippines (hạng 17, 4 HCV) đều có những tấm HCV ở các môn Olympic, với các nhà vô địch sẵn sàng đua tranh huy chương ở Olympic, kể cả HCV. Đơn cử Indonesia với 1 HCV của đồng đội cầu lông nam, 1 HCV cử tạ, 1 HCV leo tường đều có thể nhằm tới huy chương Olympic, thậm chí HCV. Philippines có 2 HCV đơn môn thể dục dụng cụ do công của Carlos Yulo, người từng hai lần bước lên ngôi cao nhất ở kỳ Thế vận hội gần nhất. Malaysia đoạt được tới 4 HCV ở squash, môn có trong chương trình thi đấu của Olympic 2028.

Có lẽ cần đề cập riêng tới trường hợp của thể thao Thái Lan, đoàn đã có một kỳ Á vận hội vượt trội và khác biệt. Người Thái giành tới 18 HCV và tổng số 52 huy chương các loại. 18 HCV của họ có được ở 12 môn, và có 10 HCV ở các môn Olympic. Thể thao Thái Lan đã chứng tỏ được sức mạnh với “nguồn vàng” ở cả các môn sở trường lâu nay như cầu mây, boxing, đua thuyền buồm, taekwondo, mở rộng ra những môn mới như teqball, MMA, rồi tạo bước bứt phá ở một số môn sáng giá khác như điền kinh, bóng chuyền bãi biển. Dù chỉ hơn Việt Nam đúng 1 HCV ở SEA Games 33 (13 so với 12), điền kinh Thái Lan đã gây chấn động ASIAD bằng một hattrick HCV với điểm nhấn là hai kỳ tích danh giá của Boonson trên hai đường chạy 100m và 200m nam.

Boonson (Thái Lan) đang nổi lên là viên ngọc sáng của điền kinh châu Á. Ảnh: BÙI LƯỢNG 

TTVN đã đoạt ngôi nhất toàn đoàn ở 2 trong 3 kỳ SEA Games gần đây. Trong thời gian ấy, chúng ta cũng trải qua 2 kỳ Á vận hội đều chỉ đoạt 3 HCV, không đạt chỉ tiêu đặt ra. Nếu ở ASIAD 19, Việt Nam xếp dưới 5 quốc gia Đông Nam Á thì lần này chúng ta đứng sau 4 đoàn. Cũng cần nhắc lại, TTVN đã không thể giành được huy chương ở hai kỳ Olympic liên tiếp. Đây có thể coi như một nghịch lý kéo dài, gắn với 3 đấu trường SEA Games - ASIAD và Olympic.  

Những vấn đề nóng và bài toán khó

Có hai vấn đề lớn và nóng đặt ra từ cả hành trình 11 lần dự tranh ASIAD của TTVN, và được kết đọng ở chính kỳ Đại hội trên đất Nhật Bản.

Thứ nhất, Việt Nam vẫn chưa có nhóm môn tranh HCV ASIAD và 1-2 môn tranh huy chương Olympic với nền tảng, mũi nhọn của cả môn, cùng số tuyển thủ xuất sắc đáp ứng được trình độ để đua tranh sòng phẳng. Chúng ta đang duy trì đầu tư 40 môn thường xuyên song trình độ của hầu hết các môn đều mới chỉ dừng lại ở mức SEA Games.

Thứ hai, những giải pháp và phương thức chuẩn bị và dự tranh ASIAD vẫn giống như SEA Games, còn mang nặng tính dàn trải và thời vụ, thiếu hẳn sự phân cấp và đầu tư chuyên biệt. Trên thực tế, ngay cả ASIAD, chúng ta cũng gần như chỉ nhắm đích và chuẩn bị trực tiếp trong năm làm nhiệm vụ, và chu kỳ 4 năm của Á vận hội bị ảnh hưởng đáng kể bởi SEA Games 2 năm một lần. Trên thực tế sự liên thông của SEA Games cho đấu trường tầm cao như ASIAD là quá thấp. Đơn cử điền kinh Việt Nam giành tới 12 HCV SEA Games 33 nhưng đến Asian Games chỉ đoạt nổi 1 HCĐ. Bơi thậm chí còn không có HCĐ Á vận hội.

Tấm huy chương bạc của Nguyễn Thị Tâm ở môn boxing là thành tích vượt ngưỡng. Ảnh: BÙI LƯỢNG

Rõ ràng, TTVN cần phải có mục tiêu, giải pháp, lộ trình, nguồn lực riêng cho việc giành 5 đến 7 HCV ASIAD và giành huy chương ổn định ở Olympic như đặt ra trong Chiến lược Phát triển TTVN đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Trong đó, điều cốt yếu phải tạo ra nhóm môn trọng điểm, mà không ngoài những môn hay nội dung của môn có truyền thống, thế mạnh và phù hợp như bắn súng, cử tạ, cầu mây, karate, boxing nữ. Chiến tích xuất sắc của cầu mây nữ khi dự hai nội dung giành cả 2 HCV bằng một quá trình chuẩn bị chủ động, sáng tạo, bảo đảm về nhiều mặt, cùng đẳng cấp cao, hoàn toàn ngang ngửa với Thái Lan đã mang tới một hình mẫu về một “mỏ vàng” ASIAD. Chúng ta có thể tính đến việc đầu tư cao độ để nâng tầm cầu mây (cả nam và nữ) để tranh chấp được 2-3 HCV ổn định ở các kỳ Asian Games.

Điều tiên quyết, khởi đầu quan trọng nhất chính phải từ sự thay đổi nhận thức, thay đổi mang tính chiến lược, đột phá: Đặt ASIAD vào đúng vị trí, tầm mức của một đấu trường, đích nhắm trọng tâm của TTVN. Có lẽ đã đến lúc không thể bằng lòng hay chấp nhận với sự thật, ở ASIAD năm 2006, TTVN giành được 3 HCV, và đến kỳ Đại hội 2026, sau 20 năm, chúng ta cũng chỉ có được 3 HCV, xếp hạng 5 trong số các nước Đông Nam Á.