Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, điển hình là Chiến dịch Tây Nguyên, Chiến dịch Huế-Đà Nẵng và đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh đã tạo nên bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta. Đây là trận quyết chiến chiến lược cuối cùng, tiêu diệt và đập tan toàn bộ lực lượng quân sự của hệ thống Ngụy quyền, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Thắng lợi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố, trong đó, việc tổ chức, chỉ huy và vai trò của hậu phương chi viện hậu cần cho tiền tuyến là một trong yếu tố cơ bản, quyết định.

Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, ta thực hiện phương án tác chiến hiệp đồng quân binh chủng với quy mô lớn trong điều kiện xa hậu phương chiến lược, thời gian chuẩn bị trực tiếp ngắn. Cùng một lúc, ta phải khẩn trương cơ động nhiều lực lượng, cùng với binh khí kỹ thuật và khối lượng vật chất rất lớn từ xa vào chiến trường. Trong khi đó, vận tải của ta gặp nhiều khó khăn do thiếu phương tiện vận chuyển trên địa bàn rộng lớn, phức tạp. Hậu cần Chiến dịch (HCCD) phải bảo đảm cho nhiều lực lượng, với nhiều hình thức tác chiến linh hoạt để thực hiện tư tưởng chỉ đạo là: “Thần tốc, tạo bạo, bất ngờ, chắc thắng”.

Để bảo đảm cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, hậu cần chiến lược (HCCL) đã thành lập bộ phận chỉ huy tiền phương ngay tại chiến trường và chỉ đạo hậu cần các quân khu, quân đoàn tổ chức bộ phận tiền phương có nhiệm vụ bảo đảm hậu cần trong mọi tình huống. Đặc biệt, trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, Bộ Chỉ huy thành lập ngay cơ quan hậu cần Chiến dịch Miền do Hậu cần B2 (Hậu cần chiến trường Nam Bộ) đảm bảo, Tổng cục Hậu cần (TCHC) và Tổng cục Kỹ thuật chi viện tối đa về mọi mặt. Cơ quan chỉ huy hậu cần do Trung tướng Đinh Đức Thiện - Chủ nhiệm TCHC, kiêm Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật làm Phó Tư lệnh Chiến dịch trực tiếp phụ trách; Thiếu tướng Bùi Phùng - Chủ nhiệm Hậu cần Miền là Phó Chủ nhiệm HCCD. Ngay sau khi thành lập, HCCD đã gấp rút điều chỉnh tổ chức biên chế, bố trí lực lượng và tổ chức chỉ huy hậu cần phù hợp với quy mô sử dụng lực lượng, nghệ thuật tác chiến của ta, bảo đảm vững chắc, cơ động cao.

HCCL đã chỉ đạo các cơ quan, đơn vị điều chỉnh tổ chức, biên chế cơ quan, cơ sở hậu cần từ trên xuống đơn vị cơ sở, bảo đảm phù hợp, tinh gọn hơn. Tiến hành sắp xếp lại tổ chức, biên chế, điều chỉnh các vị trí trong căn cứ hậu cần, tiếp cận tuyến đường vận tải chiến lược, sẵn sàng bảo đảm cho các hướng chiến dịch. Gấp rút điều chỉnh tổ chức, bố trí hậu cần tại chỗ áp sát Sài Gòn tạo thành thế trận hậu cần liên hoàn, vững chắc, cơ động để bảo đảm cho các lực lượng, nhất là trên 5 hướng tiến công lớn từ ngoài vào và lực lượng luồn sâu, đánh chiếm bên trong. Chỉ đạo tổ chức thêm hai bộ phận hậu cần tiền phương ở hướng Đông và hướng Tây Nam. Ở hướng Đông còn tổ chức cơ quan chỉ huy tiền phương của TCHC do đồng chí Phó Tham mưu trưởng TCHC phụ trách có nhiệm vụ chỉ đạo và tổ chức hiệp đồng bảo đảm cho Quân đoàn 2, Quân đoàn 4.

Cùng với đó, HCCL chỉ đạo các quân đoàn tổ chức, bố trí hậu cần trên các hướng; tận dụng thế bố trí của hậu cần tại chỗ để kết hợp bố trí, sử dụng lực lượng cho phù hợp. Chỉ đạo hậu cần các quân đoàn tổ chức thành các cụm hậu cần đồng bộ, trong đó, có cụm hậu cần cơ bản phía sau, cụm hậu cần cơ động phía trước để trực tiếp bảo đảm và sẵn sàng phát triển theo đội hình tiến công thọc sâu của quân đoàn. Hậu cần các quân đoàn tổ chức căn cứ hậu cần phía trước để tiếp cận và bảo đảm cho lực lượng chiến đấu của các sư đoàn. HCCD chỉ đạo hậu cần các đơn vị đặc công, biệt động và lực lượng vũ trang địa phương bám sát hoạt động của bộ đội để bảo đảm sát vùng ven và luồn sâu trong thành phố. Chỉ đạo và tổ chức, chỉ huy tuyến vận tải chặt chẽ từ phía sau ra chiến dịch, bảo đảm liên hoàn, vững chắc. Tổ chức 2 tuyến vận tải chiến lược do hậu cần chiến lược bảo đảm. Tuyến 1 theo tuyến đường của Đoàn 559 từ Tây Nguyên theo đường 14a, 14b để tới Tổng kho Đồng Xoài. Tuyến 2 theo đường biển và chuyển tiếp bằng đường bộ từ Đà Nẵng, Cam Ranh vào Xuân Lộc. Ngoài ra, HCCL còn chỉ đạo tổ chức 6 tuyến vận tải chiến dịch do HCCD đảm nhiệm để tiếp nhận, vận chuyển bảo đảm cho các quân đoàn và lực lượng phía trước. Về việc tổ chức các mặt bảo đảm, HCCL, chiến dịch đã cử nhiều phái viên xuống cơ sở để trực tiếp kiểm tra, đôn đốc giúp đỡ đơn vị;  nghiên cứu, nắm tình hình khả năng cung cấp của các địa phương và chỉ đạo hiệp đồng bảo đảm. Tổ chức hệ thống thu dung, điều trị trên chiến trường miền Nam và điều chỉnh lực lượng phù hợp với yêu cầu chiến trường. Ngoài các phân đội quân y từ TCHC đưa vào, các chiến trường chủ động điều chỉnh tổ chức bố trí lực lượng phù hợp với yêu cầu bảo đảm quân y cho trận đánh lớn.

Thành công trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, ngoài   vai trò to lớn của công tác tổ chức, chỉ huy còn có sự chi viện  hậu cần của hậu phương cho tiền tuyến. Để chi viện cho tiền tuyến, Bộ Chính trị quyết định thành lập Hội đồng chi viện chiến trường, do đồng chí Phạm Văn Đồng-Uỷ viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ làm Chủ tịch. Hội đồng đã huy động các lực lượng, phương tiện của nhiều bộ, ngành từ Trung ương đến địa phương vào chiến trường. Hậu phương lớn miền Bắc đã dốc sức vào chiến trường với khẩu hiệu “Tất cả cho tuyền tuyến”, “ Tất cả để đánh thắng”. Trước khó khăn trong việc tiếp tế, vận chuyển vật chất hậu cần, chuyển thương, Bộ Chính trị đã chỉ thị cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân tập trung chi viện cho tiền tuyến, bảo đảm cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy toàn thắng. Ngay trong năm 1974, miền Bắc đã động viên được trên 01 triệu tấn lương thực, chiếm 18 % tổng sản lượng cả năm; huy động được 60% năng lực vận tải hiện có để chuyển hàng hoá vào các chiến trường. HCCL đã quan hệ chặt chẽ với hậu phương quốc gia, làm cầu nối giữa hậu phương với tiến tuyến. Trong 9 tháng đầu năm 1974, miền Bắc đã vận chuyển vào miền Nam 330.000 tấn vật chất các loại. Chỉ tính từ tháng 12/1974-4/1975 vận chuyển được 230.000 tấn vật chất các loại  vào chiến trường miền Nam.

Khó khăn lớn nhất trong việc chi viện hậu cần cho tiền tuyến là công tác vận tải. Để khắc  phục vấn đề này, các lực lượng vận tải của Nhà nuớc được huy động vào việc vận chuyển quân, vật chất hậu cần vào miền Nam. Ngoài 6770 ô tô làm nhiệm vụ vận tải chuyên trách của Quân đội, các cơ quan, ban, ngành, địa phương miền Bắc đã huy động 60% phương tiện vận tải dân sự chi viện vận chuyển lực lượng, vật chất hậu cần, kỹ thuật… Cùng với phương tiện, có hơn 30.000 cán bộ, thanh niên xung phong được huy động để tăng cường cho Đoàn 559 mở đường. Đến năm 1975, đã mở được hơn 1.200 km đường từ Đông Trường Sơn vào Lộc Ninh và 1240 km đường được nâng cấp ở Tây Trường Sơn và nhiều cung đường, đoạn đường vòng tránh khác. Huy động xây dựng 1311km đường ống xăng dầu, đến 01/1975 xăng dầu vận chuyển bằng đường ống đã vào tới Nam Bộ. Hậu phương tại chỗ miền Nam đã xây dựng được mạng lưới hậu cần nối liền từ Tây Trị Thiên, qua Tây Nguyên vào đến miền Đông và xuống miền Tây Nam Bộ, tạo ra được mạng lưới hậu phương rộng khắp chi viện trực tiếp cho chiến trường. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, hậu phương tại chỗ huy động và chi viện gần 10.000 tấn lương thực, thực phẩm, đáp ứng 50% nhu cầu cho các lực lượng tham gia chiến đấu. Đồng thời huy động 4000 xe vận tải các loại, 656 thuyền máy và số lượng lớn dân công phục vụ Chiến dịch.

Ngày nay, trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực và trong n­ước đang có những diễn biến phức tạp khó l­ường; việc tranh giành tài nguyên xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới với tính chất phức tạp, ngày càng tăng... Nếu chiến tranh xảy ra, chúng ta phải tiến hành chiến tranh nhân dân, toàn diện, với nghệ thuật và cách đánh độc đáo của Việt Nam. Do vậy, việc tổ chức, chỉ huy và huy động hậu phương chi viện hậu cần cho tiền tuyến trong cuộc Tổng tiển công và nổi dậy mùa Xuân 1975 cần được nghiên cứu, vận dụng một cách sáng tạo, linh hoạt, phù hợp với thực tế. Để làm được điều đó, cần tập trung giải quyết tốt một số vấn đề sau:

Một là, cần quán triệt sâu sắc đ­ường lối chiến tranh nhân dân, hậu cần nhân dân của Đảng. Phải nhận thức đúng, đầy đủ vai trò của tổ chức, chỉ huy, vai trò của hậu phương trong chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc. Thường xuyên quan tâm, chăm lo xây dựng hậu phương chiến lược, căn cứ hậu phương, căn cứ hậu cần liên hoàn, vững chắc, sẵn sàng huy động bảo đảm khi cần thiết. Quá trình tổ chức bảo đảm cần triệt để dựa vào nguồn lực nhân dân, dựa vào sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế-xã hội với củng cố quốc phòng-an ninh.

Hai là, thường xuyên xây dựng và điều chỉnh kế hoạch bảo đảm hậu cần cho phù hợp với thực tế; phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng của Chính phủ để xây dựng kế hoạch huy động tiềm năng của đất nước, địa phương sẵn sàng động viên bảo đảm hậu cần khi chiến tranh xảy ra. Đồng thời, chú trọng xây dựng hậu cần Quân đội vững mạnh cả về tổ chức, biên chế, chỉ huy, lực lượng, cơ sở vật chất kỹ thuật, làm nòng cốt trong công tác bảo đảm hậu cần cho tác chiến. Không ngừng rèn luyện phong cách, tác phong của người cán bộ hậu cần sâu sát, tỉ mỉ; phương pháp chỉ huy hậu cần sắc bén, linh hoạt, sáng tạo, sâu sát, kịp thời, tập trung, kiên quyết, liên tục và linh hoạt trong mọi tình huống.

Ba là, xây dựng căn cứ hậu phương toàn diện về mọi mặt, cả về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá với quy mô ngày càng lớn và hoàn chỉnh. Phải nghiên cứu tổ chức, bố trí các lực lượng phù hợp, kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng lực lượng hậu cần với xây dựng căn cứ hậu ph­ương, căn cứ hậu cần và xây dựng thế trận hậu cần nhân dân vững mạnh, rộng khắp. Xây dựng căn cứ hậu phương đáp ứng mọi hoạt động của các lực lượng vũ trang nhân dân trong khu vực phòng thủ hoặc hướng chiến trường đảm nhiệm. Vì vậy, ngay trong thời bình cần phải xây dựng, chuẩn bị tiềm lực hậu cần, trên  phạm vi cả nước, nhất là trên các hướng chiến lược, địa bàn chiến lược, gắn với địa bàn tác chiến phòng thủ của các quân khu và hậu phương tại chỗ của các khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố), bảo đảm tác chiến lâu dài. Có kế hoạch khai thác, tạo nguồn và quản lý bảo quản vật chất hậu cần; duy trì, bảo đảm mạng đường giao thông, vận tải thông suốt; phát triển mạng lưới y tế, bưu điện ngày càng vững mạnh, đồng bộ từ trên xuống dưới đủ khả năng huy động khi cần thiết.

Bốn là, tích cực, chủ động chuẩn bị chu đáo; phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng hậu cần trên địa bàn. Xây dựng thế trận hậu cần vững chắc; kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế trong tạo nguồn bảo đảm hậu cần. Vận dụng linh hoạt các phương thức bảo đảm hậu cần, lấy phương thức kết hợp bảo đảm hậu cần tại chỗ với bảo đảm hậu cần cơ động từ nơi khác đến, hình thành thế trận hậu cần theo khu vực hoàn chỉnh.

Có thể nói, thành công trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử có sự đóng góp to lớn của việc tổ chức, chỉ huy hậu cần và vai trò hậu phương chi viện hậu cần. Đây là bài học vô giá vẫn còn nguyên giá trị, thể hiện sự tập trung, thống nhất trong công tác chỉ đạo, hiệp đồng thông suốt từ Trung ương đến địa phương; giữa HCCL với chiến dịch, các đơn vị, các tuyến; giữa hậu cần quân đội với hậu cần nhân dân tại chỗ. Đồng thời phát huy được vai trò hậu phương chi viện hậu cần cho tiền tuyến đã tạo ra thế trận hậu cần liên hoàn, rộng khắp, từ phía sau ra phía trước, cả vòng trong, vòng ngoài trên tất cả  các hướng bảo đảm vững chắc, cơ động./.

 

Trung tướng, TS NGUYỄN ĐỨC HẢI, Viện trưởng Viện Chiến lược quốc phòng/BQP