Liên minh do Mỹ đứng đầu ở I-rắc đã chính thức tan rã với cuộc rút quân của binh lính Ô-xtrây-li-a và sự kết thúc sứ mệnh của một đơn vị quân đội Anh sau khi Quốc hội I-rắc ngừng họp mà không đạt được thỏa thuận cho phép quân Anh tiếp tục ở lại để bảo vệ các cảng dầu phía nam I-rắc, cũng như huấn luyện các binh sĩ I-rắc. Việc Anh và Ô-xtrây-li-a, hai đồng minh quan trọng cuối cùng của Mỹ trong cuộc chiến I-rắc, rút khỏi Bát-đa khiến Oa-sinh-tơn trở nên đơn độc ở đất nước vùng Vịnh Péc-xích này. 

Theo Chỉ huy quân Ô-xtrây-li-a tại Trung Đông, Thiếu tướng Mác Ke-li, 12 lính Ô-xtrây-li-a đã rời khỏi Bát-đa từ hôm 28-7, ba ngày trước hạn chót. Bộ phận bảo vệ gồm 100 lính sẽ ở lại I-rắc để bảo vệ nhân viên đại sứ quán. Anh cũng đã rút số quân còn lại, khoảng 100-150 người và chuyển tới Cô-oét.

Một binh sĩ Anh hôn Quốc kỳ Anh trong lễ chuyển giao nhiệm vụ bảo đảm an ninh cho quân đội Mỹ ở Ba-xra, I-rắc.

Đây là lần đầu tiên kể từ khi cuộc chiến I-rắc nổ ra tháng 3-2003, Mỹ trở nên “đơn thương độc mã” trên trận tuyến I-rắc. Trước đó, bên cạnh Mỹ luôn có lực lượng liên minh hùng hậu từ nhiều nước ủng hộ Oa-sinh-tơn trước và sau cuộc tấn công I-rắc năm 2003. Vào thời kỳ đỉnh điểm, liên quân tại I-rắc lên tới 300.000 binh sĩ tới từ 38 quốc gia. Trong số đó, có 250.000 quân của Mỹ, 40.000 quân Anh và số còn lại ở các quy mô rất đa dạng, từ 70 binh sĩ An-ba-ni tới 2.000 quân của Ô-xtrây-li-a.

Phát động cuộc chiến chống I-rắc với cớ I-rắc là mối đe dọa an ninh quốc tế và an ninh Mỹ với kho vũ khí hủy diệt hàng loạt, nhưng khi chính quyền Xát-đam Hút-xen sụp đổ, Mỹ đã không thể tìm được bất kỳ chứng cứ nào về việc I-rắc có loại vũ khí nguy hiểm này hoặc về việc I-rắc che giấu các phần tử khủng bố quốc tế. Con số không này càng tạo nên làn sóng phản đối Mỹ trên thế giới và ngay từ những nước cử lực lượng tham gia liên quân ở I-rắc. Cộng đồng quốc tế đã kêu gọi chính phủ các nước tham gia liên quân rút quân khỏi I-rắc. Vụ đánh bom khủng bố ngày 11-3-2004 ở thủ đô Ma-đrít (còn được gọi là vụ 11-9 ở Tây Ban Nha) làm nhiều người thiệt mạng đã buộc Tây Ban Nha ra lệnh rút quân khỏi I-rắc sau đó không lâu, mở đầu cho cuộc triệt thoái của các lực lượng đồng minh.

Liên quân tại I-rắc bắt đầu suy sụp khi các nước phải đối mặt với bất ổn chính trị và xã hội về một cuộc chiến không được ủng hộ. Hầu hết các đồng minh châu Âu của Mỹ ở I-rắc, trước đây từng ủng hộ các hoạt động chống Ta-li-ban ở Áp-ga-ni-xtan và cuộc chiến vùng Vịnh lần thứ nhất (1991), đã rút quân về nước. Theo con số thống kê, tháng 1-2007, binh lính nước ngoài ở I-rắc (không tính quân đội Mỹ) giảm xuống chỉ còn 14.000. Đến tháng 10-2007, chỉ có 20 quốc gia là đồng minh của Mỹ ở I-rắc với khoảng 11.400 binh lính.

Trong tình thế đó, Mỹ đã liên tục tăng quân để đảm bảo an ninh theo Hiệp ước an ninh giữa Mỹ và chính quyền I-rắc, có hiệu lực từ ngày 1-1-2009. Theo Hiệp ước trên, đến ngày 30-6-2009, binh sĩ Mỹ đã rút khỏi các thành phố lớn của I-rắc và quân đội Mỹ sẽ rút khỏi I-rắc cuối năm 2011. Tổng thống Ô-ba-ma ra lệnh rút quân khỏi I-rắc từ ngày 31-8-2010 và chỉ để lại 50.000 quân để huấn luyện và làm cố vấn cho lực lượng an ninh I-rắc.

Việc hai đồng minh quan trọng còn lại của Lầu Năm góc rút nốt quân khỏi I-rắc khiến Mỹ không khỏi lo lắng bởi bom vẫn tiếp tục nổ và bạo lực không ngừng ở nơi đây. Tuy nhiên, người phát ngôn của quân đội Mỹ ở Bát-đa, ông Rô-bin-xơn, trấn an rằng các cuộc rút quân này không có nghĩa Mỹ sẽ đơn độc tại I-rắc. "Chúng tôi không mất các đối tác quốc tế, vẫn còn có những đại diện từ khắp nơi trên thế giới ở đây với tư cách là cố vấn quân sự, nhân viên hành pháp và xây dựng", ông Rô-bin-xơn nói. Mới đây nhất, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ R.Ghết đã bay từ I-xra-en ghé thăm chớp nhoáng I-rắc và vẫn tin rằng, an ninh ở I-rắc đang được cải thiện và hy vọng tiến trình rút nốt quân Mỹ khỏi “bãi lầy” này vẫn sẽ được thực thi theo kế hoạch.

KIM OANH