Cách mạng Hồi giáo 1979: Cú ngoặt 180 độ
Trong lịch sử Trung Đông hiện đại, hiếm có bước ngoặt nào mang tính “định mệnh” như năm 1979 ở Iran. Đó không chỉ là sự sụp đổ của một chế độ, mà là sự đảo chiều của cả một trật tự địa chính trị. Chỉ trong vài tháng, Iran, từ “pháo đài tiền tiêu” của Mỹ, biến thành trung tâm của một trục chống Mỹ và chống Israel.
Suốt 3 thập niên sau Chiến tranh thế giới thứ hai, dưới thời vua Mohammad Reza Shah Pahlavi, Iran là trụ cột trong chiến lược Trung Đông của Washington. Tehran được xem là một trong những đồng minh đáng tin cậy nhất.
Nhưng chính sự lệch pha đó lại gieo mầm khủng hoảng. Chính quyền Iran quá thân phương Tây, xa rời nền tảng Hồi giáo truyền thống. Vua Shah bị nhìn nhận như một “con rối” của phương Tây. Bộ máy an ninh mật đàn áp khốc liệt các lực lượng đối lập, từ cánh tả đến tôn giáo; tham nhũng lan rộng, bất mãn xã hội tích tụ… Tất cả như một quả bom hẹn giờ.
 |
| Giáo sĩ Ayatollah Ruhollah Khomeini (giữa) vẫy tay chào các tín đồ ở Tehran, Iran, năm 1979. Ảnh: AAP |
Tháng 1-1979, trước làn sóng biểu tình dâng cao, vua Shah buộc phải rời khỏi đất nước và sau đó nhập cảnh Mỹ. Đó là mồi lửa cuối cùng kích hoạt vụ nổ mang tên Cách mạng Hồi giáo Iran.
Tháng 2-1979, giáo sĩ Ruhollah Khomeini trở về từ lưu vong, nhanh chóng chuyển phong trào phản kháng thành một cuộc cách mạng toàn diện. Ông không chỉ thay đổi chính quyền, mà còn tái định hình bản chất nhà nước. Một nền cộng hòa Hồi giáo thần quyền ra đời, vận hành theo học thuyết “Velayat-e Faqih” - trao quyền lực tối cao cho lãnh tụ tôn giáo.
Quan trọng hơn, Iran đã định nghĩa lại kẻ thù: Mỹ là “Đại Satan”, Israel là “Tiểu Satan”. Đây không đơn thuần là khẩu hiệu, mà là một tuyên bố chiến lược. Trung Đông bước vào kỷ nguyên đối đầu, nơi tôn giáo, chính trị và địa chính trị hòa trộn.
Hệ quả tức thì: Mỹ mất đồng minh chiến lược quan trọng nhất khu vực. Israel mất một đối tác ngầm. Các quốc gia Arab vùng Vịnh bắt đầu lo ngại về nguy cơ “xuất khẩu cách mạng” từ Tehran.
Khủng hoảng con tin: Rạn nứt không thể hàn gắn
Nếu Cách mạng Hồi giáo 1979 là cú sốc, thì Khủng hoảng con tin Iran 1979-1981 là một rạn nứt không thể hàn gắn. Ngòi nổ trực tiếp là việc Tổng thống Mỹ Jimmy Carter cho phép vua Shah nhập cảnh vào Mỹ để điều trị bệnh. Đối với giới sinh viên và các giáo sĩ cứng rắn, đây là bằng chứng không thể chối cãi cho thấy Washington đang toan tính khôi phục chế độ quân chủ - kịch bản từng xảy ra năm 1953.
Ngày 4-11-1979, các cuộc biểu tình phản đối Mỹ ưu ái cựu quốc vương Shah lên đến đỉnh điểm khi các sinh viên Iran xông vào Đại sứ quán Mỹ tại Tehran, bắt giữ 66 người làm con tin, sau đó giữ 52 nhà ngoại giao Mỹ trong suốt 444 ngày.
 |
| Các con tin bị bịt mắt bên ngoài Đại sứ quán Mỹ. Ảnh: Reuters |
 |
| Các con tin người Mỹ còn lại được thả vào ngày 20-1-1981 và được đưa đến căn cứ không quân Wiesbaden ở Đức. Ảnh: Getty Images |
Tổng thống Mỹ Carter đã ra lệnh thực hiện một chiến dịch giải cứu mang tên “Móng vuốt đại bàng” (Eagle Claw), nhưng chiến dịch này đã thất bại, dẫn đến vụ rơi máy bay ở Iran khiến 8 binh sĩ Mỹ thiệt mạng.
Sau khi chiến dịch Eagle Claw và những nỗ lực ngoại giao bất thành, Washington đã chuyển sang gây sức ép kinh tế lên Iran, đặt nền móng cho cơ chế cấm vận mà Mỹ áp dụng với Iran suốt nhiều thập kỷ sau đó. Mỹ bắt đầu ngừng mua dầu của Iran, tiếp đến là đóng băng toàn bộ tài sản của Iran ở Mỹ.
Mặc dù các con tin cuối cùng được thả vào ngày 20-1-1981, nhưng quan hệ Mỹ - Iran thì đã không bao giờ trở lại được như trước nữa. Mỹ cắt đứt quan hệ ngoại giao với Iran và quan hệ hai nước chuyển từ căng thẳng sang thù địch dài hạn.
Iran còn phải trả giá đắt khi bên cạnh việc mất đi sự ủng hộ của quốc tế trong cuộc chiến tranh Iran-Iraq sau này, nước này còn không đạt được bất kỳ nhượng bộ nào từ Mỹ và tiếp tục chịu các biện pháp trừng phạt kéo dài. Gần 2 tỷ USD tài sản của Iran vẫn bị đóng băng từ đó và kể từ năm 1992, dầu Iran không còn chỗ đứng tại thị trường Mỹ.
Chiến tranh Iran-Iraq và vụ bê bối Iran-Contra: Mọi nguyên tắc bị bẻ cong
Chưa kịp ổn định sau cách mạng và khi cuộc khủng hoảng con tin còn chưa kịp kết thúc, Iran lại bị cuốn vào một cuộc chiến mới mang tên Chiến tranh Iran-Iraq. Xung đột bắt nguồn từ tranh chấp lãnh thổ quanh khu vực Shatt al-Arab, tuyến đường thủy có ý nghĩa sống còn với xuất khẩu dầu mỏ. Nhưng động lực sâu xa lại nằm ở nỗi sợ sự lan rộng của cuộc cách mạng.
Sau Cách mạng Hồi giáo, Iran chuyển mình thành một nhà nước Hồi giáo cách mạng. Thông điệp “xuất khẩu cách mạng” khiến các chế độ trong khu vực, đặc biệt là Iraq, cảm thấy bị đe dọa trực tiếp. Đối với nhà lãnh đạo Iraq Saddam Hussein, đây vừa là nguy cơ, vừa là cơ hội chiến lược: Một Iran đang hỗn loạn, đang ở thế yếu nhất, có thể bị đánh bại nhanh chóng. Lý do khác nữa là Iraq muốn chặn làn sóng cách mạng Shiite đang nuôi tham vọng trở thành cường quốc hàng đầu khu vực. Vì thế, quyết định tấn công toàn diện Iran ngày 22-9-1980 của ông Saddam Hussein với kỳ vọng chiến thắng nhanh, nhưng sa lầy trong cuộc chiến tiêu hao gần một thập kỷ.
 |
| Chiến tranh Iran-Iraq là cuộc chiến tiêu hao gần một thập kỷ mà không có bên nào chiến thắng. Ảnh: iranprobe.com |
Trong cuộc chiến này, hàng trăm nghìn thanh niên Iran lao vào chiến trường với niềm tin tôn giáo, trong khi Iraq sử dụng ưu thế vũ khí, thậm chí cả vũ khí hóa học.
Đáng chú ý, cuộc chiến này không đơn thuần là cuộc xung đột song phương mà là tấm gương phản chiếu sự phức tạp của tam giác Mỹ - Iran - Israel. Mỹ công khai coi Iran là kẻ thù, ngầm hỗ trợ Iraq bằng thông tin tình báo, kinh tế và vũ khí, đồng thời triển khai hải quân bảo vệ tuyến dầu mỏ vùng Vịnh. Nhưng Washington cũng không muốn Iraq thắng tuyệt đối. Mục tiêu là kéo dài chiến tranh để làm suy yếu cả hai phía.
Trong khi đó, các nước vùng Vịnh như Saudi Arabia và Kuwait tài trợ mạnh cho Iraq nhằm ngăn Iran xuất khẩu cách mạng Hồi giáo và bảo vệ các chế độ quân chủ trong khu vực. Phía Israel cũng không muốn Iraq mạnh lên. Tel Aviv coi Saddam Hussein là mối đe dọa quân sự nguy hiểm hơn Iran trong ngắn hạn. Vì vậy, Israel đã bí mật hỗ trợ Iran tiếp cận nguồn vũ khí. Chính sự đan xen lợi ích này đã dẫn tới vụ bê bối Iran-Contra, một trong những scandal chính trị lớn nhất nước Mỹ trong thế kỷ XX.
Mặc dù Washington áp đặt lệnh cấm vận vũ khí đối với Iran, nhưng giữa bối cảnh cuộc chiến Iran-Iraq đang diễn ra ác liệt, Iran rơi vào tình trạng thiếu vũ khí nghiêm trọng, Mỹ đã bí mật “bán vũ khí” cho Iran, đổi lấy ảnh hưởng chính trị và khả năng giải cứu con tin Mỹ tại Lebanon. Nghịch lý ở đây là Mỹ công khai chống Iran, nhưng lại âm thầm giao dịch với chính đối thủ của mình. Trong cuộc giao dịch này, Israel đóng vai trò mắt xích trung gian. Theo đó, các thương vụ vũ khí không đi trực tiếp từ Mỹ sang Iran mà Israel là nước chuyển vũ khí có nguồn gốc Mỹ cho Iran. Cách làm này giúp Washington giữ “khoảng cách chính trị” cần thiết, trong khi vẫn đạt mục tiêu chiến lược. Nhưng điểm bùng nổ của bê bối nằm ở chỗ: Lợi nhuận từ những thương vụ này đã bị chuyển hướng trái phép để tài trợ cho lực lượng Contra ở Nicaragua, bất chấp lệnh cấm của Quốc hội Mỹ theo Đạo luật Boland Amendment (cấm CIA hoặc bất kỳ cơ quan nào khác của Mỹ hỗ trợ cho lực lượng Contra).
 |
|
Điểm bùng nổ của bê bối Iran-Contra nằm ở chỗ: Lợi nhuận từ những thương vụ bán vũ khí cho Iran đã bị chuyển hướng trái phép để tài trợ cho lực lượng Contra ở Nicaragua, bất chấp lệnh cấm của Quốc hội Mỹ theo Đạo luật Boland Amendment (cấm CIA hoặc bất kỳ cơ quan nào khác của Mỹ hỗ trợ cho lực lượng Contra). Ảnh: apushcanvas.pbworks.com
|
Khi vụ việc bị phanh phui năm 1986, nó không chỉ là một scandal, mà là sự lộ diện của cơ chế quyền lực vận hành trong bóng tối: Trong địa chính trị, ranh giới giữa kẻ thù và đối tác luôn linh hoạt khi lợi ích đủ lớn. Mỹ vừa chống Iran, vừa giao dịch với Iran. Israel vừa coi Iran là mối đe dọa, vừa hợp tác ngầm. “Không có kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích vĩnh viễn”, câu nói quen thuộc, nhưng trong trường hợp này đã hiện lên với tất cả sự trần trụi của nó.
Mỗi biến cố kể trên đều khoét sâu thêm một vết nứt vào “tam giác lửa” Mỹ - Iran - Israel, dần biến nó từ một mối quan hệ liên minh có thể hàn gắn thành một cấu trúc xung đột được định hình bởi lịch sử, ý thức hệ và lợi ích.
Hơn 4 thập kỷ sau, Trung Đông vẫn vận hành dưới cái bóng của cú đảo chiều năm 1979, một “đêm dài” mà bình minh dường như vẫn còn ở rất xa.