QĐND - Nợ xấu của ngành ngân hàng do nhiều nguyên nhân khác nhau và là sự tương phản của bức tranh kinh tế vĩ mô. Nợ xấu của ngân hàng cũng gắn liền với sự ứ đọng vốn trong sản xuất kinh doanh, hàng hóa tồn kho, công trình đầu tư dở dang, thị trường bất động sản suy giảm. Do vậy, để xử lý nợ xấu của ngành ngân hàng, không được nôn nóng vì phải triển khai các giải pháp xử lý đồng bộ.

Nợ xấu không phải bây giờ mới có

Nợ xấu của ngành ngân hàng là các khoản nợ thuộc các nhóm nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn. Theo số liệu báo cáo mới nhất của các tổ chức tín dụng Việt Nam (TCTD), đến ngày 30-6-2012, nợ xấu của toàn hệ thống là 119.139 tỷ đồng, chiếm 4,49% so với tổng dư nợ tín dụng và tăng 47,2% so với cuối năm 2011. Theo kết quả giám sát của Cơ quan Thanh tra, giám sát Ngân hàng, nợ xấu của các TCTD trong nước chiếm 8,82% tổng dư nợ tín dụng của các TCTD trong nước. 

Nợ xấu của các TCTD không phải bây giờ mới có mà đã được tích lũy trong một thời gian dài gần chục năm nay. Trước năm 2011, trong 8 năm, Việt Nam là một trong số ít nước có tốc độ tăng trưởng tín dụng cao nhất trên thế giới, trung bình 33%/năm, tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2010 là 32,43%. Giai đoạn này, nhiều doanh nghiệp do nhu cầu đầu tư mở rộng để phát triển sản xuất nên đã vay vốn ngắn hạn để đầu tư đã tạo áp lực trả nợ tăng cao (do lãi suất cao hơn vay ngắn hạn), trong khi khả năng quản trị không tốt, dự án đầu tư kéo dài, hoặc sản phẩm sản xuất ra không tiêu thụ được... dẫn đến kỳ hạn trả nợ, không có nguồn để trả buộc phải vay tiếp ngắn hạn để trả nhưng không thể kéo dài vì áp lực trả nợ ngày càng lớn hơn. Do tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu từ giữa năm 2008, tăng trưởng kinh tế trong nước bị suy giảm, tình hình tài chính và sản xuất kinh doanh của khách hàng vay suy giảm. Trước tình hình đó, Chính phủ đã triển khai gói giải pháp kích thích kinh tế, nới lỏng chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, trong đó có chính sách hỗ trợ lãi suất cho vay nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế. Chính sách này đã tạo điều kiện cho tín dụng ngân hàng tiếp tục tăng trưởng nhanh và vì thế chất lượng tín dụng cũng không thể bảo đảm, một số khoản vay ngân hàng trở thành các khoản nợ có vấn đề rồi nợ xấu. Sang năm 2012, nền kinh tế Việt Nam vẫn đang đối mặt với nhiều thách thức, doanh nghiệp tiếp tục gặp khó khăn về tiêu thụ sản phẩm, tồn kho cao, kinh tế phục hồi chậm, lạm phát có xu hướng tăng trở lại, thị trường bất động sản và chứng khoán tiếp tục trầm lắng và dự báo tiếp tục ảnh hưởng tiêu cực đến các lĩnh vực khác của nền kinh tế. Những khó khăn của môi trường kinh tế, cộng với việc Chính phủ triển khai quyết liệt các giải pháp cơ cấu lại các TCTD tất yếu dẫn đến số nợ xấu lớn đã tích tụ nhiều năm trước bắt đầu lộ diện. 

Ngoài những nguyên nhân khách quan trên, những yếu tố chủ quan như năng lực thẩm định, quản trị của các TCTD còn bất cập, hiệu quả công tác thanh tra, giám sát còn hạn chế… cũng góp phần làm phát sinh và tích tụ số nợ xấu này.

Nhờ làm tốt công tác quản trị hệ thống, tỷ lệ nợ xấu của Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội hiện đang ở dưới 2% tổng dư nợ tín dụng. Ảnh: Huyền Trâm

Dòng tiền trong nền kinh tế không lưu thông

Nợ xấu luôn tồn tại trong hoạt động của các TCTD, là một phần rủi ro phát sinh trong quá trình hoạt động ngân hàng. Tuy nhiên, nợ xấu lớn cũng đồng nghĩa với một lượng vốn tương ứng không được quay vòng, dòng tiền trong nền kinh tế không lưu thông được và hệ thống ngân hàng sẽ gặp khó khăn về thanh khoản. Nợ xấu lớn cũng làm ảnh hưởng đến hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ, lãi suất và quản lý thị trường tiền tệ của NHNN. Nếu cứ để các TCTD và các doanh nghiệp có nợ xấu tự xử lý thì thời gian kéo dài, số lượng doanh nghiệp không có vốn sản xuất kinh doanh phải dừng hoạt động, thậm chí phá sản sẽ gia tăng. Điều này sẽ đe dọa đến sự phát triển bền vững của hệ thống tài chính quốc gia nói riêng và của nền kinh tế nói chung. Do vậy, ở bất kỳ quốc gia nào cũng vậy, khi nợ xấu đủ lớn đe dọa sự an toàn hệ thống ngân hàng và ổn định kinh tế vĩ mô thì Chính phủ lập tức phải can thiệp xử lý nợ xấu, kể cả sử dụng nguồn ngân sách hoặc vốn vay từ nội lực hay bên ngoài.

Xử lý nợ xấu như thế nào?

Xử lý nợ xấu là một trong những nội dung quan trọng trong Đề án cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011-2015 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Trong bối cảnh nền kinh tế còn nhiều khó khăn (nguồn lực ngân sách Nhà nước hạn chế, nợ công lớn, thâm hụt ngân sách cao và nguy cơ lạm phát cao vẫn còn tiềm ẩn), việc xử lý nợ xấu của các TCTD phải bảo đảm các nguyên tắc: TCTD và khách hàng vay phải chịu trách nhiệm chính về các khoản nợ xấu phát sinh và chia sẻ tổn thất trong việc xử lý nợ xấu; Nhà nước chỉ chịu trách nhiệm xử lý các khoản nợ xấu do cho vay các đối tượng chính sách hoặc theo chỉ định của Chính phủ và hỗ trợ cho việc xử lý nợ xấu của các TCTD chủ yếu thông qua ban hành các cơ chế, chính sách, tạo lập và quản lý thị trường mua bán nợ; Nhà nước chỉ can thiệp xử lý nợ xấu bằng nguồn vốn ngân sách khi cần thiết để bảo đảm sự an toàn của hệ thống ngân hàng và sự ổn định của nền kinh tế trên nguyên tắc bảo đảm có hiệu quả kinh tế- xã hội.

Do đó xử lý nợ xấu của hệ thống ngân hàng không phải là trách nhiệm riêng của ngành ngân hàng và đòi hỏi phải có hệ thống các giải pháp xử lý đồng bộ, bao gồm TCTD tự xử lý, giải pháp điều hành kinh tế vĩ mô, xử lý hàng tồn kho, “phá băng” thị trường bất động sản, kích thích đầu tư, tiêu dùng và hệ thống cơ chế, chính sách kèm theo.

Cần khẩn trương thành lập công ty quản lý tài sản

Trong thời gian qua, NHNN đã có những giải pháp về cơ chế, chính sách để hỗ trợ TCTD và doanh nghiệp. Theo Ngân hàng Nhà nước, sau khi tăng mạnh từ đầu năm nay, tốc độ tăng nợ xấu đã có chiều hướng chậm lại. Tính đến cuối tháng 8-2012, các tổ chức tín dụng đã thực hiện trích lập dự phòng rủi ro (là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra do khách hàng của TCTD không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết. Trong 8 tháng đầu năm 2012, số nợ xấu đã được các tổ chức tín dụng xử lý bằng nguồn dự phòng rủi ro đạt gần 8000 tỷ đồng. Từ tháng 4-2012 đến nay, qua thực hiện cơ cấu lại nợ theo Quyết định số 870/QĐ-NHNN, đã có khoảng 36.000 tỷ đồng nợ của doanh nghiệp được xử lý theo hướng giãn, khoanh lại… Tuy nhiên, để bảo đảm xử lý nhanh nợ xấu, khơi thông vốn cho nền kinh tế, với kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn tại Việt Nam thì giải pháp căn cơ, hữu hiệu nhất hiện nay là cần khẩn trương thành lập công ty quản lý tài sản thuộc NHNN (VAMC) để hỗ trợ quá trình xử lý nợ xấu. Giải pháp này xuất phát từ nhu cầu cần phải có một tổ chức độc lập, chuyên nghiệp, có khả năng tiếp nhận và xử lý tập trung các khoản nợ xấu của các TCTD với quy mô lớn để tối đa hóa giá trị thu hồi vốn. VAMC là một doanh nghiệp đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ thành lập, được tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 100% vốn Nhà nước, hoạt động theo nguyên tắc lấy thu bù chi, không vì mục tiêu lợi nhuận và chịu sự quản lý, giám sát trực tiếp của NHNN. VAMC thực hiện mua, tiếp nhận các khoản nợ xấu có tài sản bảo đảm bằng tài sản, chủ yếu là bất động sản. TCTD bán nợ được thanh toán bằng trái phiếu hoặc bằng công cụ nợ đặc biệt do VAMC phát hành.

Xử lý nhanh hàng tồn kho và hỗ trợ thị trường bất động sản

Hàng tồn kho và sự trầm lắng của thị trường bất động sản là những nguyên nhân chính dẫn đến nợ xấu ngân hàng. Trong thời gian tới, Nhà nước sẽ triển khai đồng bộ các giải pháp hỗ trợ thị trường bất động sản bao gồm miễn giảm thuế VAT cho cá nhân, hộ gia đình mua nhà xã hội và mua nhà thương mại để ở lần đầu; ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp cho doanh nghiệp đầu tư nhà xã hội, tạo điều kiện cho doanh nghiệp chuyển đổi nhanh cơ cấu các dự án bất động sản; đẩy mạnh xây dựng nhà ở xã hội cho người có thu nhập thấp, lao động ở khu công nghiệp và các đối tượng chính sách khác.

Ngoài các giải pháp chính của NHNN đã thực hiện tích cực và bước đầu mang lại hiệu quả trong thời gian qua, các giải pháp khác mang tính hỗ trợ, phối hợp từ các Bộ, ngành cũng là rất quan trọng trong việc xử lý nợ xấu. Nhóm giải pháp này sẽ tập trung vào việc tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp thông qua việc miễn, giảm thuế, giãn thời hạn nộp thuế theo Nghị quyết số 13/NQ-CP ngày 10-5-2012 của Chính phủ; Triển khai các biện pháp kích thích đầu tư, tiêu dùng, đẩy mạnh đầu tư phát triển cho các dự án, chương trình mục tiêu quốc gia, hệ thống giao thông nông thôn, hạ tầng kinh tế - xã hội; bố trí đầy đủ vốn thanh toán cho các công trình, dự án đầu tư để xử lý dứt điểm tình trạng nợ đọng trong đầu tư xây dựng cơ bản ở cả Trung ương và địa phương; tăng quy mô và hiệu quả quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa để tăng khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng của doanh nghiệp; đẩy nhanh tiến độ và vốn chi tiêu công; hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu và tiêu thụ hàng hóa, đưa hàng hóa về nông thôn; Thực hiện có hiệu quả chương trình “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các quy định về bán, xử lý tài sản bảo đảm tiền vay để giúp ngân hàng xử lý tài sản bảo đảm, thu hồi nợ nhanh chóng, thuận tiện; đổi mới, nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự để bảo vệ quyền chủ nợ của TCTD và giúp TCTD thu hồi tài sản sớm nhất.

QUỲNH MY (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam)