 |
|
Chế tác sản phẩm tại làng nghề Xuân Tâm, Xuân Lộc (Đồng Nai). |
Hệ thống làng nghề thủ công mỹ nghệ (TCMN) nước ta đang đối mặt với tình trạng cạn kiệt nguồn nguyên liệu. Nếu không có những giải pháp tích cực mang tính tổng thể ngay từ bây giờ thì trong vòng 10 năm tới, ngành TCMN sẽ cực kỳ khó khăn do khủng hoảng thiếu trầm trọng nguồn nguyên liệu. Ông Đỗ Như Đính, Chủ tịch Hiệp hội Xuất khẩu hàng TCMN Việt
Nam đã cảnh báo như vậy…
Những lợi thế
Tại các hội chợ triển lãm quốc tế tổ chức ở Thành phố Hồ Chí Minh thời gian gần đây xuất hiện nhiều mô hình mô phỏng các công trình lịch sử văn hóa làm bằng tre, được du khách quốc tế rất yêu thích. Những công trình bằng tre giàu tính thẩm mỹ như: Chùa Một Cột, Ngọ Môn (Huế), Quốc Tử Giám… với kích thước tương đương công trình thật, qua bàn tay tài hoa của nghệ nhân các làng nghề TCMN ở Đồng Nai, đã góp phần tôn vinh, quảng bá văn hóa Việt, đưa sản phẩm TCMN Việt Nam đến với thị trường quốc tế. Ông Nguyễn Minh Tiên, chủ cơ sở TCMN Minh Tiên, Xuân Lộc (Đồng Nai) cho biết: Nếu như trước đây sản phẩm TCMN của địa phương chỉ tiêu thụ trong nước với số lượng nhỏ, thì nay mặt hàng của các làng nghề đã có mặt ở nhiều nước trên thị trường châu Á và EU. Sự ăn nên làm ra của các làng nghề TCMN đã góp phần giải quyết công ăn việc làm cho hàng vạn lao động địa phương, tạo môi trường phát huy cao khả năng sáng tạo của các nghệ nhân. Tại Đồng Nai, hiện nay, đã hình thành nhiều “lò” đào tạo nghệ nhân các ngành chế biến gỗ và mây, tre, đan.
Ông Đỗ Như Đính cho biết, sau hai năm gia nhập WTO, sản phẩm TCMN Việt Nam đã có bước phát triển vượt bậc, trở thành một trong 10 ngành xuất khẩu đạt kim ngạch cao nhất cả nước. Kim ngạch xuất khẩu hiện đã đạt hơn 800 triệu USD/năm, tốc độ tăng trưởng trung bình hằng năm của TCMN Việt Nam ước đạt 15%. Do hàng TCMN được sản xuất chủ yếu từ nguồn nguyên liệu có sẵn trong nước nên giá trị thực thu xuất khẩu hàng TCMN trên thực tế đạt 95-97%, cao hơn hẳn các mặt hàng xuất khẩu khác. Hiện cả nước có 2.017 làng nghề TCMN, trong đó ngành mây, tre đan chiếm tỷ lệ cao nhất (24%), tiếp đến là ngành chế biến gỗ (11,5%). Lợi thế của TCMN Việt Nam là hệ thống làng nghề có mặt ở hầu hết các địa phương trên cả nước nên sản phẩm bảo đảm tính đa dạng, phong phú cả về mẫu mã, chất lượng, thuận tiện cho việc tiêu thụ, phát triển các dịch vụ đi kèm. Từ lợi thế và tốc độ phát triển của TCMN Việt Nam trong môi trường WTO, Chính phủ đã và đang có nhiều chính sách hỗ trợ bằng các chương trình khuyến công, đào tạo nghề, xúc tiến thương mại… phấn đấu đưa kim ngạch xuất khẩu của ngành hàng TCMN đạt mức 1,5 tỉ USD vào năm 2010.
Thiếu nguồn nguyên liệu-thách thức hàng đầu
Nguồn nguyên liệu hàng TCMN Việt Nam gồm các chủng loại chính: tre, mây, gỗ, cói, lục bình, bẹ chuối, lá buông, nguyên liệu gốm sứ, sợi… Kết quả thống kê cho thấy, tình trạng thiếu hụt nguồn nguyên liệu đã diễn ra trên diện rộng những năm gần đây do nhu cầu sản xuất, chế biến sản phẩm tăng cao, trong lúc các vùng nguyên liệu ngày càng bị thu hẹp, khai thác tràn lan, công tác quản lý ở nhiều địa phương lỏng lẻo.
Nếu như trước đây, hàng TCMN được sản xuất chủ yếu bằng nguồn nguyên liệu trong nước thì đến nay, chúng ta đã phải nhập khẩu đến 50% nguồn nguyên liệu phục vụ sản xuất, chế biến. Nguyên liệu gỗ là nhóm phải nhập khẩu nhiều nhất. Đề tài nghiên cứu của Tiến sĩ Vũ Huy Đại, Chủ nhiệm Khoa Chế biến Lâm sản, Trường đại học Lâm nghiệp cho thấy: Hiện nay các doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ xuất khẩu đang thiếu trầm trọng nguồn nguyên liệu trong nước, tỷ lệ nhập khẩu nguyên liệu gỗ chiếm đến 80%. Hằng năm ngành chế biến gỗ xuất khẩu phải nhập khoảng 2,5 triệu m3 gỗ tròn. Dự báo đến năm 2010, con số này sẽ tăng lên đến 11 triệu m3. Nguồn gỗ nhập khẩu từ các nước như: Cam-pu-chia, Lào, In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a… không ổn định, trong lúc nguồn nhập khẩu từ các quốc gia ở các châu lục khác chi phí vận chuyển quá cao, làm cho giá thành nguyên liệu tăng, giảm sức cạnh tranh của sản phẩm Việt Nam. Ngành mây, tre đan xuất khẩu hiện nay có đến hơn 42% các cơ sở đang hoạt động cầm chừng và có nguy cơ đóng cửa vì không chủ động được nguyên liệu. Dự báo trong 10 năm tới, hệ thống làng nghề TCMN Việt Nam sẽ rơi vào tình trạng thoái trào nếu không có chiến lược quy hoạch, phát triển các vùng nguyên liệu hợp lý.
Ông Đỗ Như Đính bày tỏ sự lo ngại: Đến nay chúng ta chưa có giải pháp để giải quyết tình trạng khủng hoảng thiếu trầm trọng nguồn nguyên liệu. Các bộ, ngành chuyên trách cần sớm tham mưu cho Chính phủ đề ra các chương trình, giải pháp giải quyết vấn đề này nhằm bảo đảm phát triển sản xuất bền vững, lâu dài. Được biết, hiện Bộ NN và PTNT đang giao cho Cục Chế biến, Thương mại Nông-Lâm-Thủy sản và Nghề muối thực hiện dự án “Quy hoạch các làng nghề gắn với vùng nguyên liệu” trên phạm vi cả nước. Tuy nhiên, đến nay, dự án mới chỉ đang trong quá trình… xây dựng.
Bài và ảnh: LỮ NGÀN