(Tiếp theo kỳ trước)
Phần 2: Yêu sách của Trung Quốc về quyền lịch sử
Yêu sách của Trung Quốc cũng được biện minh là "quyền lịch sử" mặc dù chẳng rõ là những quyền này hậu thuẫn cho "đường chữ U" hay ngoài đường này. Quan chức Trung Quốc luôn luôn viện dẫn các "quyền lịch sử" này và tuyên bố khu vực này là lãnh thổ "lâu đời" của Trung Quốc khi tranh chấp với các nước yêu sách khác của ASEAN. Theo người Trung Quốc, các quyền này đã tồn tại trước khi có nhận thức về UNCLOS và luật quốc tế của phương Tây.
Theo quan điểm của họ, UNCLOS không loại bỏ mà còn ca ngợi các quy định chung của luật pháp quốc tế, trong đó đề cao các quyền lịch sử dựa trên hoạt động đánh cá, giao thông hàng hải và các hoạt động trên biển khác do người Trung Quốc tiến hành trong quá khứ. Người Trung Quốc tuyên bố "đã thừa hưởng và thực thi một số quyền cụ thể trên Biển Đông qua suốt chiều dài lịch sử được ghi nhận mà không có thách thức nào. Những quyền này không bắt nguồn từ UNCLOS".
Cái cảm xúc mạnh mẽ rằng "quyền" của Trung Quốc trong khu vực này không được luật pháp quốc tế thừa nhận, đã lưu truyền rộng rãi ở Trung Quốc và đã cổ vũ cho quan điểm theo chủ nghĩa dân túy về chủ đề này. Quan chức Trung Quốc khăng khăng cho rằng: "Các bằng chứng lịch sử" ủng hộ cho yêu sách của họ, rằng ngư dân Trung Quốc đã đánh cá và sinh sống ở khu vực này, rằng đã phát hiện những đồ cổ của Trung Quốc ở đó, và rằng yêu sách này đã được những nước khác thừa nhận.
Vấn đề xuất hiện trong triển vọng pháp lý là ở chỗ: Các ghi nhận lịch sử bổ trợ không thể tạo ra được và hoạt động đánh cá hay lưu thông hàng hải có thể do người dân đảo Hải Nam thực hiện nhưng những hoạt động đó không thể được hiểu là một đòi hỏi có danh nghĩa. Quyền lịch sử và danh nghĩa lịch sử là hai vấn đề khác nhau. Ngoài ra, trong vụ kiện đảo Palmas đã lưu ý rằng, bất cứ quyền nào có được trong lịch sử cũng có thể mất "nếu không được duy trì phù hợp với những thay đổi do những phát triển trong luật quốc tế hiện đại mang lại". Trong vụ kiện Eritrea-Yemen đưa ra ICJ (Tòa công lý quốc tế-PV) năm 1998, Y-ê-men đã đưa ra yêu sách về "danh nghĩa lâu đời" đối với những đảo đang tranh chấp. Trong khi tòa không gạt bỏ lập luận này, tòa dẫn chiếu đến tiền lệ Palmas và sử dụng việc kiểm tra "việc liên tục thể hiện quyền lực nhà nước và có sự hiện diện" để quyết định quyền sở hữu đối với đảo.
UNCLOS thừa nhận rằng, các quốc gia có thể có các quyền truyền thống theo khái niệm "vịnh lịch sử" nêu trong Khoản 6, Điều 10, với điều kiện tuân thủ 3 tiêu chuẩn trong đó có việc chứng minh thực thi chủ quyền trong vùng đó, tiếp tục thực hiện quyền lực đó và được các nước khác công nhận. Việc phát triển lập luận này vào "các vùng nước lịch sử" để biện minh cho quan điểm của Trung Quốc không có cơ sở pháp lý. Trong vụ kiện El-san-va-đo - Ôn-đu-rát năm 1992, ICJ đã tuyên bố rằng: "Các vùng nước lịch sử như vậy không có và không tồn tại như một chế định trong luật biển". Nếu như Trung Quốc không chứng minh được các hoạt động này được trợ giúp bởi một yêu sách đối với khu vực này, về phía các cơ quan của các vương triều Bắc Kinh thì lập luận của họ không mang tính thuyết phục.
Theo các quan điểm hiện đại trên thế giới, Biển Đông chưa bao giờ là lãnh thổ của Trung Quốc. Đó là một khu vực mơ hồ ở rất xa lục địa và thực sự không phải là một phần của đế chế (Trung Quốc). Các ghi nhận lịch sử của Trung Quốc có nói đến Hoàng Sa nhưng không có sự liên quan rõ ràng nào đến quần đảo Hoàng Sa mà Trung Quốc ít có liên hệ. Các tuyến đường giao thương của Trung Quốc đi men theo khu vực quần đảo Trường Sa; hai tuyến giao thương chính nối miền Nam Trung Quốc với Đông Nam Á, tuyến phía Tây di dọc theo bờ biển Việt Nam trong khi tuyến phía Đông nối Quảng Đông và miền Nam Trung Quốc với Lu-dông và Phi-líp-pin. Hai tuyến này được ghi nhận rõ ràng trong tài liệu của các nguồn Trung Quốc nhưng không phải là đi ngang qua Trường Sa, vốn được biết đến là vô cùng nguy hiểm đối với hàng hải. Thực sự là có rất ít bằng chứng lịch sử về lợi ích của Trung Quốc đối với Trường Sa.
 |
|
Một số học giả quốc tế chụp ảnh cùng chủ tàu và thuyền viên tàu ĐNa 90152 TS của Việt Nam bị tàu Trung Quốc đâm chìm ngày 26-5-2014. Ảnh: Yên Ba
|
Quấy nhiễu và sức mạnh
Trung Quốc luôn luôn nhất quán trong việc thực hiện yêu sách của mình qua năm tháng và luôn thể hiện khả năng tận dụng các cơ hội có được do sự rút lui của một số cường quốc đối thủ, hoặc sự thay đổi trong cán cân quyền lực trong khu vực.
Trung Quốc giành quyền kiểm soát phần Đông của Hoàng Sa từ Nam Việt Nam tháng 1-1974, khi Mỹ rút khỏi khu vực này. Trung Quốc phản đối Việt Nam chiếm đóng các đảo ở quần đảo Trường Sa sau khi Việt Nam thống nhất năm 1975 và đã đụng độ với Hải quân Việt Nam tháng 3-1988, khi Liên Xô rút khỏi khu vực. Sau này, Trung Quốc đã chống lại Phi-líp-pin. Hiện nay, Trung Quốc tăng cường sức ép bằng việc sử dụng chiến thuật quấy phá để bắt Việt Nam và Phi-líp-pin phải công nhận "chủ quyền không tranh cãi" của Trung Quốc đối với Biển Đông.
Nếu các nước yêu sách ASEAN thừa nhận đòi hỏi của Trung Quốc theo cách này thì một giải pháp của khu vực cho tranh chấp sẽ là tuyên bố thừa nhận danh nghĩa "lịch sử" của Trung Quốc. Giải pháp này sẽ được đưa ra trước cộng đồng quốc tế như cơ sở pháp lý và sẽ là một ví dụ điển hình về tính hợp pháp sẽ được quyết định bởi sự đồng thuận khu vực theo kiểu Trung Quốc.
Kể từ năm 2009, Trung Quốc ngày càng tỏ ra quyết đoán hơn đối với vấn đề này, sẵn sàng sử dụng các biện pháp, không nghi ngờ gì, đó là kết quả của sự tự tin có được do những thành công về kinh tế và vị thế trên thế giới tăng lên. Người Trung Quốc bắt đầu xác định Biển Đông là "lợi ích cốt lõi", như bài bình luận của Tân Hoa xã: "Bằng việc thêm Biển Đông vào lợi ích cốt lõi của mình, Trung Quốc đã cho thấy quyết tâm của mình nhằm giành lấy các nguồn tài nguyên biển và các vùng biển chiến lược".
Một hình ảnh đã được tạo ra có lợi cho số đông người Trung Quốc rằng, Biển Đông đã luôn luôn là lãnh thổ của Trung Quốc, giống như Đài Loan hay Tây Tạng, và rằng khu vực này trước đây có lúc bị mất và phải khôi phục lại. Tháng 4-2012, "đường 9 đoạn" xuất hiện trên hộ chiếu mới của Trung Quốc như một bộ phận trong bản đồ Trung Quốc đã củng cố niềm tin này trong những người Trung Quốc. Tháng 1-2013, Trung Quốc xuất bản bản đồ bao gồm Biển Đông và Đài Loan trong "đường 10 đoạn" với đại lục và làm cho công chúng Trung Quốc không thể phân biệt được. Đài Loan và Biển Đông được đặt trong cùng một loại. Các bản đồ phổ biến nhằm cung cấp cho giới truyền thông, kể cả những bản đồ in trong hộ chiếu không nhất thiết thể hiện một yêu sách pháp lý và có thể hoặc là không được công nhận hoặc bị bác bỏ bởi chính người Trung Quốc. Tuy vậy, những biện pháp này là một phương cách thể hiện phẩm chất chủ nghĩa dân tộc, tạo ra nhiều căng thẳng qua chính sách đối với vấn đề này và làm cho giải pháp thông qua đàm phán ngày càng không khả thi.
Trong giới lãnh đạo ASEAN, đôi khi người ta cho rằng mục đích của Trung Quốc là đàm phán, rằng người Trung Quốc thực dụng đang tăng cường vị trí mặc cả và cuối cùng sẽ dẫn tới một thỏa thuận có tính đến lợi ích của các nước ASEAN. Tuy nhiên, một khi được nhìn nhận như lãnh thổ Trung Quốc trong suy nghĩ của công chúng thì sự linh hoạt được yêu cầu trong đàm phán sẽ mất đi và chủ nghĩa dân tộc sẽ tạo ra tính hợp pháp để đạt được việc thực hiện các yêu sách của mình.
VĂN YÊN (lược thuật)
(còn nữa)
Phần 1: Động cơ cho các yêu sách của Trung Quốc