QĐND - Hướng ra biển, đẩy mạnh phát triển kinh tế biển, bảo đảm an ninh chủ quyền biển đảo là những định hướng và mục tiêu chiến lược lớn của nước ta. Tuy nhiên, mục tiêu trên chỉ thành hiện thực khi công tác quản lý nhà nước về biển và hải đảo có sự thống nhất trong lãnh đạo, điều hành.

Thu mua hải sản tại huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh.

Tiềm năng tài nguyên biển…

Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT), tiềm năng tài nguyên biển, đảo của nước ta tuy không được coi là giàu có của thế giới, nhưng cũng rất đáng kể và có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển của đất nước. Đến nay, trong vùng biển Việt Nam đã phát hiện được 35 loại hình khoáng sản có quy mô trữ lượng khai thác từ nhỏ đến lớn, thuộc các nhóm: Nhiên liệu, kim loại, vật liệu xây dựng, đá quý… Khu vực vịnh Bắc Bộ, quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa và thềm lục địa nước ta… là những nơi có tiềm năng dầu khí. 

Đặc biệt, sự phát hiện mới đây ở vùng cát ven biển và biển ven bờ Nam Trung Bộ cho thấy, trữ lượng các sa khoáng titan, ziacon… có thể đứng đầu thế giới. Gần đây đã phát hiện một số mỏ cát dưới đáy biển Quảng Ninh, Hải Phòng, các tỉnh miền Trung và Tây Nam Bộ với trữ lượng rất lớn. Nguồn lợi hải sản với khả năng cho phép khai thác 2,3 triệu tấn/năm. Dọc ven biển có hơn 800.000ha bãi triều và các vịnh, đầm phá ven bờ, rất thuận lợi để nuôi trồng các loại thủy sản có giá trị xuất khẩu như: Tôm, cua, ngọc trai… Dọc bờ biển nước ta có hơn 50% số đô thị lớn của cả nước, có trên 100 điểm có thể xây dựng cảng, trong đó có nơi có thể xây dựng cảng trung chuyển quốc tế, hiện 30 cảng biển đã đi vào hoạt động phát huy hiệu quả; nhiều đảo có tiềm năng phát triển kinh tế cao với tư cách là các khu hậu cần cho khai thác biển xa.

Theo ước tính hiện nay, quy mô kinh tế (GDP) biển và vùng ven biển nước ta bình quân đạt khoảng 47-48% GDP cả nước, trong đó GDP của kinh tế “thuần biển” đạt khoảng 20-22% tổng GDP cả nước…

Có thể khẳng định, tiềm năng tài nguyên biển và hải đảo nước ta rất phong phú cả trên bờ, dưới nước, trên đảo, dưới lòng đất đáy biển và là điều kiện phát triển nhiều lĩnh vực kinh tế biển quan trọng. Tuy nhiên, chúng ta cần phải có bước đột phá về quản lý để từng bước nâng cao hiệu quả kinh tế.

Cần có sự quản lý tổng hợp, thống nhất

Trao đổi về thực trạng công tác quản lý tài nguyên biển, PGS, TSKH Nguyễn Văn Cư, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam (Bộ TN&MT) cho biết: Tài nguyên biển và ven biển được nhìn nhận như là các hệ thống tài nguyên có tính chia sẻ, chứa đựng “yếu tố không gian” và luôn là đối tượng sử dụng của nhiều ngành. Nhưng trên thực tế, biển và hải đảo nước ta vẫn chủ yếu được quản lý theo ngành. Đến nay, vẫn có khoảng 15 bộ, ngành và lĩnh vực dịch vụ đang khai thác và trực tiếp quản lý nhà nước về biển, hải đảo ở mức độ khác nhau trong phạm vi thẩm quyền ngành. Quản lý theo ngành và thiếu các công cụ quản lý liên ngành, liên kết vùng trong khai thác, sử dụng và phát triển tài nguyên biển, hải đảo đã “kích thích tính tự phát, thiếu tính tổng thể và toàn diện” trong các phương án phát triển.

Bên cạnh đó, trong quản lý biển bấy lâu nay chúng ta vẫn lấy tư duy đất liền chi phối, nên thường chia nhỏ, phân tán các nguồn lực gây chồng chéo, mâu thuẫn và lãng phí. Chưa xây dựng được công cụ quản lý tổng hợp ở tầm vĩ mô trên cơ sở những quy hoạch tổng thể, dài hạn về sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường biển mà dựa vào đó có thể điều chỉnh, sắp xếp lại một cách có trật tự các quy hoạch, kế hoạch, dự án mang tính chuyên ngành về khai thác tài nguyên biển.

Vẫn theo ông Nguyễn Văn Cư, để tạo bước đột phá trong quản lý nhà nước về tài nguyên biển, trước hết chúng ta cần hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về quản lý tổng hợp, thống nhất về biển, hải đảo; cần nhất quán thực thi phương thức quản lý biển và hải đảo theo cách tổng hợp và thống nhất trên cơ sở xác lập một cơ chế phối hợp liên ngành trong quản lý. Cơ cấu lại nền kinh tế biển trên địa bàn cho hợp lý, vừa bảo đảm khai thác hiệu quả tài nguyên biển ở địa phương, vừa thực hiện nhiệm vụ quốc gia về chủ quyền biển, đảo; đồng thời tăng cường công tác điều tra cơ bản và tổng hợp biển, hải đảo; định kỳ kiểm kê, đánh giá tình hình khai thác, sử dụng biển, vùng ven biển và hải đảo làm căn cứ tiến hành phân vùng chức năng và quy hoạch sử dụng biển và hải đảo đến năm 2020, tầm nhìn 2030 trên phạm vi toàn quốc theo các vùng biển và hải đảo.

Bài và ảnh: THANH LIÊM