QĐND - Nhìn lại 10 năm Việt Nam thực hiện Chiến lược toàn diện về tăng trường và xóa đói, giảm nghèo (giai đoạn 2002-2013), cả hệ thống chính trị đã nỗ lực phấn đấu và đạt được những kết quả to lớn, bền vững, rất đáng tự hào, được nhân dân cả nước và các tổ chức quốc tế đánh giá cao.
Trong báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) vừa công bố đã đánh giá tỷ lệ nghèo ở Việt Nam giảm từ gần 60% xuống 20,7% trong 20 năm qua (1990-2010) với khoảng 30 triệu người. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đạt được những thành tựu ấn tượng về y tế, giáo dục với tỷ lệ nhập học bậc tiểu học của người nghèo hơn 90%. Và mới đây, Tổ chức Nông Lương Liên hợp quốc (FAO) đã vinh danh công nhận thành tích nổi bật trong xóa đói, giảm nghèo cho 38 quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Đồng thời, Việt Nam cũng nằm trong nhóm 18 quốc gia được trao bằng khen chứng nhận việc sớm đạt được Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ 1, hướng tới mục tiêu giảm một nửa số người bị đói vào năm 2015. Điều này khẳng định định hướng chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam là đúng đắn và phù hợp với xu thế phát triển chung của thế giới.
 |
|
Xây nhà theo Chương trình 167 hỗ trợ nhà ở cho người nghèo. Ảnh: Trường Giang
|
Trong Chương trình “Dân hỏi, Bộ trưởng trả lời” trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ mới đây, bà Phạm Thị Hải Chuyền, Bộ trưởng Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội cho biết: Chủ trương, chính sách giảm nghèo đã được cụ thể hóa hơn bằng các chương trình như Nghị quyết 30a của Chính phủ đầu tư cho 62 huyện nghèo, và vừa mới mở rộng ra 30 huyện được hưởng kinh phí hỗ trợ tương đương 70% của huyện thuộc diện Nghị quyết 30a. Cùng với việc đầu tư hạ tầng cho những huyện nghèo, những chính sách hỗ trợ cho người nghèo cũng được tăng cường. Chính vì vậy, việc giảm tỷ lệ hộ nghèo đã cơ bản đạt được mục tiêu mà Đại hội Đảng lần thứ XI đề ra, bình quân là 2%/năm, trong đó những huyện miền núi, khó khăn giảm khoảng 4%/năm. Mấy năm gần đây, khi nền kinh tế trong nước gặp khó khăn, nhiều lĩnh vực đã phải cắt giảm nguồn vốn, nhưng riêng nguồn lực cho giảm nghèo không bị giảm mà còn tăng lên. Nếu bình quân trong giai đoạn 2008-2012, Chính phủ dành khoảng 90.000 tỷ đồng/năm cho công tác giảm nghèo, thì giai đoạn 2011-2013 nguồn lực dành cho hộ nghèo là 364.000 tỷ đồng, tương đương 120.000 tỷ đồng/năm. Điều này thể hiện quyết tâm của Đảng, Nhà nước trong việc dành nguồn lực đáng kể để giảm nhanh tỷ lệ hộ nghèo ở nước ta, phấn đấu đạt được các Mục tiêu Thiên niên kỷ.
Tuy nhiên, để giảm nghèo, xóa nghèo bền vững không thể chỉ bằng việc cung cấp, trợ giúp các phương tiện sống cho người nghèo, mà phải có chính sách, biện pháp ngăn ngừa, hạn chế các yếu tố rủi ro; đồng thời phải cung cấp một phương thức phát triển mới, phù hợp với điều kiện cụ thể của người nghèo. Đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực, là điều kiện cần thiết cho mục tiêu xóa đói, giảm nghèo nhanh và bền vững. Do đó, những chính sách đối với người nghèo cần tiếp tục được điều chỉnh cho phù hợp. Ngoài việc phải xác định đầu tư, hỗ trợ cơ sở vật chất để người nghèo có điều kiện thoát nghèo, thì cần đầu tư tăng nguồn lực từ vay tín dụng thay cho hỗ trợ trực tiếp. Do đặc thù của Việt Nam thường xuyên phải gánh chịu hậu quả thiên tai rất khắc nghiệt, nếu hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo không được quan tâm thì sẽ bị tái nghèo rất nhanh. Vì vậy, cùng với việc hỗ trợ cho hộ nghèo, trong thời gian tới sẽ có một số chính sách mới ưu tiên cho các đối tượng là cận nghèo, làm cơ sở để tiếp tục sự nghiệp giảm nghèo bền vững.
Nghị quyết 80/NQ-CP, Nghị quyết 30a/NQ-CP và Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo của Chính phủ đều đặt mục tiêu giảm nghèo bền vững lên hàng đầu. Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững dài hơi không chỉ có tiến hành hỗ trợ trực tiếp, mà phải đầu tư nguồn lực, đầu tư hạ tầng cho những vùng nghèo; đồng thời dành nguồn lực từ ngân sách thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội để tạo điều kiện vốn ưu đãi cho người nghèo vay; khích lệ, động viên hộ nghèo tự vươn lên là chính.
Nhằm hạn chế tái nghèo, bảo đảm giảm nghèo bền vững, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo việc nâng mức đóng bảo hiểm y tế cho một số đối tượng cận nghèo. Cùng với đó, các hộ thoát nghèo sẽ tiếp tục được hưởng chính sách vay vốn tín dụng ưu đãi trong thời hạn nhất định, cho vay ưu đãi có lãi suất cho hộ nghèo nhằm nâng cao ý thức và trách nhiệm sử dụng vốn.
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện Chương trình giảm nghèo bền vững còn có những hạn chế cần khắc phục như: Tỷ lệ giảm nghèo nhanh nhưng chưa bền vững; khoảng cách giàu-nghèo giữa các nhóm dân cư còn lớn; có nơi còn chiếm tỷ lệ hơn 50% hộ nghèo, cá biệt có nơi 60-70%. Tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số chiếm tới gần 50% tổng số hộ nghèo trong cả nước, thu nhập bình quân của hộ dân tộc thiểu số chỉ bằng 1/6 mức thu nhập bình quân của cả nước.
MINH MẠNH