QĐND - Thực hiện việc chuyển dịch trọng tâm chiến lược sang khu vực châu Á-Thái Bình Dương, Oa-sinh-tơn đã có các bước đi trên nhiều lĩnh vực, song đáng lưu ý hơn cả là những động thái ở kênh quân sự-quốc phòng và kinh tế-thương mại...

Với tính chất nhạy cảm vốn có, kênh quân sự-quốc phòng của chính sách “tái cân bằng” luôn được các nước trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương theo dõi một cách sát sao. Mở màn bằng sự kiện Tổng thống Ô-ba-ma tuyên bố đã thống nhất được với Can-bê-ra về việc triển khai 2.500 thủy quân lục chiến theo cơ chế “xoay tua” ở Đác-uyn, Ô-xtrây-li-a, từ cuối tháng 11-2011, Oa-sinh-tơn đã có nhiều động thái phân bổ lại sự hiện diện của quân đội Mỹ ở khu vực. Tại Đối thoại Shangri-La tháng 6-2012, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Lê-ôn Pa-nét-ta (Leon Panetta) thông báo, đến năm 2020, Mỹ sẽ triển khai 60% lực lượng Hải quân tại Thái Bình Dương và 40% tại Đại Tây Dương, thay đổi so với tỷ lệ 50/50 trước đó. Lực lượng Hải quân Mỹ tại khu vực sẽ gồm 6 tàu sân bay và nhiều tàu ngầm, chiến hạm.

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chắc Hây-gơ phát biểu tại Đối thoại Shangri-La ở Xin-ga-po tháng 5-2014. Ảnh: Bảo Trung

Đầu năm 2013, Mỹ điều tàu USS Freedom tới Xin-ga-po như một phần trong kế hoạch triển khai 4 tàu chiến tới đảo quốc này cho tới năm 2017. Trong thời gian làm nhiệm vụ ở khu vực, tàu USS Freedom đã cùng Nhóm tàu sân bay USS George Washington tham gia chiến dịch cứu trợ thảm họa sau siêu bão Hải Yến ở Phi-líp-pin cuối năm 2013. Việc phản ứng hiệu quả với các thách thức an ninh phi truyền thống của quân đội Mỹ có thể coi là điểm tích cực dễ thấy nhất cho đến nay trong chính sách  “tái cân bằng” của Oa-sinh-tơn ở kênh quân sự-quốc phòng. Bên cạnh chiến dịch ở Phi-líp-pin, quân đội Mỹ cũng khá tích cực tham gia tìm kiếm chiếc máy bay mang số hiệu MH370 của Ma-lai-xi-a mất tích hồi đầu năm 2014.

Tại Đối thoại Shangri-La cuối tháng 5-2014, ông Chắc Hây-gơ (Chuck Hagel), người được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ từ tháng 2-2013, thông báo: Đến năm 2020, giống như Hải quân, Không quân Mỹ sẽ bố trí 60% lực lượng tại châu Á-Thái Bình Dương. Lầu Năm Góc cũng sẽ triển khai máy bay cảnh báo sớm Hawkeye và máy bay không người lái Triton ISR ở khu vực. Trước đó, tại Đối thoại Shangri-La năm 2013, ông Chắc Hây-gơ cũng tuyên bố rằng, việc Mỹ cắt giảm ngân sách quốc phòng sẽ không ảnh hưởng tới hoạt động của Lầu Năm Góc ở châu Á-Thái Bình Dương.

Bên cạnh việc tái bố trí lực lượng, Lầu Năm Góc cũng thúc đẩy khá mạnh quan hệ quốc phòng với các nước đồng minh truyền thống và các đối tác trong khu vực. Cũng giống các vị tiền nhiệm là ông Rô-bớt Ghết (Robert Gates) và ông Lê-ôn Pa-nét-ta, ông Chắc Hây-gơ đã thực hiện nhiều chuyến thăm các nước châu Á-Thái Bình Dương. Ông Rô-bớt Ghết đã tham dự Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN mở rộng (ADMM+) lần đầu tiên tại Hà Nội năm 2010, trong khi đó, ông Chắc Hây-gơ dự ADMM+ lần 2 tại Bru-nây năm 2013. Tháng 4-2014, ông Hây-gơ đã mời Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN đến Ha-oai để dự Hội nghị không chính thức Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN-Mỹ lần đầu tiên. Đại tướng Mác-tin Đem-xi, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ, cũng thường xuyên có mặt tại châu Á-Thái Bình Dương.

Khó có thể đong đếm lợi ích an ninh hay lợi ích kinh tế của Mỹ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương bên nào nặng hơn. Theo số liệu của Cơ quan đại biện thương mại Mỹ (USTR), năm 2012, Mỹ xuất khẩu lượng hàng hóa trị giá 942 tỷ USD sang thị trường các nước châu Á-Thái Bình Dương, chiếm 61% tổng kim ngạch xuất khẩu của Mỹ. Thị trường châu Á-Thái Bình Dương đã tạo ra công ăn việc làm cho gần 3 triệu người Mỹ. Đầu tư của Mỹ vào khu vực này năm 2012 đạt 622 tỷ USD, tăng hơn 35% so với thời điểm ông Ô-ba-ma bắt đầu lên cầm quyền. Chính vì vậy, Mỹ đã thúc đẩy đàm phán Hiệp định Thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP) như là một trụ cột của chính sách “tái cân bằng”.

Cuối năm 2005, các nước Bru-nây, Chi-lê, Niu Di-lân và Xin-ga-po đã ký một Hiệp định Thương mại tự do (FTA) với tên gọi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Tháng 9-2008, Mỹ tuyên bố tham gia TPP nhưng không phải gia nhập vào TPP cũ mà sẽ cùng các bên đàm phán một Hiệp định FTA hoàn toàn mới, tuy nhiên, vẫn lấy tên gọi là TPP. Sau đó, Ô-xtrây-li-a, Pê-ru, Việt Nam, Ma-lai-xi-a, Ca-na-đa, Mê-hi-cô và Nhật Bản lần lượt tham gia vào TPP, đưa tổng số thành viên TPP hiện nay lên thành 12. Bắt đầu khởi động từ tháng 3-2010, đàm phán TPP đến tháng 9-2014 đã trải qua hàng chục phiên chính thức cũng như phiên giữa kỳ và được dự báo có thể hoàn tất trong nửa đầu năm 2015. TPP được kỳ vọng là mô hình mới về hợp tác kinh tế khu vực, tạo thuận lợi tối đa cho thương mại, đầu tư và nếu có thể, sẽ trở thành hạt nhân để hình thành FTA chung cho toàn khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Theo tính toán của Oa-sinh-tơn, đến năm 2025, TPP có thể làm lợi thêm cho nền kinh tế Mỹ 70 tỷ USD mỗi năm.

Nhìn lại số phận của chính sách “xoay trục” hay “tái cân bằng” trong thời gian qua, có thể thấy, dù có lúc “lên”, lúc “xuống”, song việc chuyển dịch trọng tâm chiến lược sang khu vực châu Á-Thái Bình Dương là ý đồ xuyên suốt của chính quyền Ô-ba-ma. Nhiều người hay băn khoăn, liệu Mỹ sẽ ở lại châu Á-Thái Bình Dương bao lâu? Song, có lẽ câu hỏi cần nêu ra hơn cả là liệu Mỹ sẽ can dự với khu vực như thế nào?

Viện Nghiên cứu chiến lược quốc tế (IISS) cho rằng, việc Mỹ coi ủng hộ giải quyết các vấn đề ở khu vực trên cơ sở luật pháp quốc tế và thông lệ quốc tế là một mục tiêu cốt lõi của chính sách “tái cân bằng”, đồng nghĩa với việc Oa-sinh-tơn phản đối sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực để giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông và biển Hoa Đông.

NGUYỄN TRẦN LÊ

(Tiếp theo và hết)

Kỳ 1: Nỗi ưu tư của tân Tổng thống Mỹ

Kỳ 2: Nhiễu loạn tín hiệu