QĐND Online - Tuy chưa có những thống kê đầy đủ trên phạm vi cả nước, nhưng theo báo cáo gần đây của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, riêng tại hai “đầu tàu” của cả nước là Hà Nội và TP.HCM, số doanh nghiệp xin giải thể thời gian qua đã tăng đột biến (khoảng 500 doanh nghiệp đăng ký giải thể trong hai tháng đầu năm 2012 và con số thực tế có thể còn lớn hơn nhiều). Ngược lại, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới giảm mạnh tới vài lần so với cùng kỳ năm trước- một năm cũng không phải rất hưng thịnh của nền kinh tế.
Trước thực tế này, cả hai vị lãnh đạo Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội và TP.HCM đều tỏ ra rất sốt ruột và lo ngại. Vụ trưởng Vụ Tổng hợp kinh tế quốc dân (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) Bùi Hà thậm chí còn than hộ doanh nghiệp: “Doanh nghiệp đang rất lo lắng và sốt ruột. Mấy tháng mới giảm lãi suất được 1-2%. Hiện tại vay với lãi suất 17-18% thì làm gì bù được”.
Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng, không nên quá lo lắng về số doanh nghiệp giải thể, nhất là trong bối cảnh một nền kinh tế thị trường. Bởi lẽ, thông thường chỉ có các doanh nghiệp yếu kém mới phải “chết”. Thà “chết sớm” để rồi có thể có cơ hội trở lại thị trường dưới những dạng thức khác có tính cạnh tranh cao hơn còn hơn tồn tại lay lắt. Ở thời điểm này, ưu tiên số một vẫn phải là kiên trì chữa dứt bệnh lạm phát, chưa thể nới lỏng chính sách tiền tệ một cách ồ ạt.
 |
| Ảnh minh họa/internet. |
Đây là quan điểm không phải không có cơ sở. Chỉ có điều, liệu môi trường đầu tư, kinh doanh hiện nay đã thực sự thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển hay vẫn có những rào cản không đáng có, không phải do những điều kiện khách quan chi phối?
Tại một cuộc hội thảo gần đây nhằm hoàn thiện bản kiến nghị của Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (VINASME) về chính sách thương mại, có thể thấy, nhiều khi những thay đổi chính sách nhiều khi có thời hạn thực thi quá gần, khiến doanh nghiệp khó mà xoay trở kịp. Ví dụ như Nghị định số 51/2010 của Chính phủ về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ có hiệu lực thi hành từ ngay 1-1-2011, nhưng từ khi Bộ Tài chính ban hành Thông tư hướng dẫn đến thời điểm Nghị định có hiệu lực thì chỉ có 3 tháng. Ở nhiều nơi mất thêm một tháng nữa để Thông tư này được Cục Thuế địa phương triển khai hướng dẫn cho doanh nghịêp. Hai tháng là quá ngắn cho một thay đổi như vậy.
Một ví dụ khác là Thông tư liên tịch số 22/2007/TTLT-BTC-BTM-BCA của liên Bộ Tài chính, Thương mại (nay là Bộ Công Thương) và Công an hướng dẫn chế độ hóa đơn, chứng từ đối với hàng hóa nhập khẩu lưu thông trên thị trường. Tất cả các nghị định làm căn cứ để ban hành thông tư này đều đã hết hiệu lực pháp luật! Doanh nghiệp sẽ hết sức lúng túng trước những quy định kiểu này, đồng thời đối diện với nguy cơ phải “lụy” nhà chức trách!
Khâu xây dựng pháp luật đã vậy thì chắc chắn thực thi pháp luật còn nhiều vướng mắc hơn! Bản dự thảo kiến nghị nói trên của VINASME (gửi Thủ tướng Chính phủ, Văn phòng Chính phủ cùng hàng loạt bộ ngành hữu quan khác) đã dành tới hàng chục trang để trình bày những vướng mắc và kiến nghị chỉ riêng trong lĩnh vực thuế và thủ tục hải quan…
Việc doanh nghiệp ra đời hay giải thể là động thái tự nhiên của nền kinh tế thị trường, nhưng điều cần đảm bảo là môi trường kinh doanh phải thực sự thông thoáng, minh bạch và hợp lý để hỗ trợ doanh nghiệp tốt nhất trong giai đoạn khó khăn này.
Tuấn Quang