Nông dân tự nguyện trồng cây trên nền đất rừng đã bị tàn phá (Ảnh: VOV)

Huyện Trần Văn Thời nằm về phía Tây tỉnh Cà Mau, có diện tích tự nhiên 70.230ha, dân số 190.000 người, chủ yếu sống bằng nghề nông-ngư nghiệp. Bờ biển huyện Trần Văn Thời dài 36km có nhiều cửa sông như cửa Đá Bạc, Ba Tỉnh, Mỹ Bình, đặc biệt Sông Đốc, ngoài khơi có đảo Hòn Chuối, hòn Đá Bạc gần bờ; là địa bàn được lựa chọn làm nơi tiếp bờ của tuyến đường ống dẫn khí từ mỏ PM3 - Cà Mau.

Địa bàn huyện Trần Văn Thời nằm ở cả hai vùng quy hoạch chuyển đổi sản xuất của tỉnh Cà Mau (hệ sinh thái mặn và hệ sinh thái ngọt-lợ) vì vậy, huyện có điều kiện phát triển sản xuất nông nghiệp, thủy sản một cách đa dạng, bền vững và có khả năng tăng trưởng nhanh.

Những năm qua, tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện Trần Văn Thời đạt bình quân 8% - 9,5%/năm. Từ những tiềm năng to lớn đó, Đảng bộ và chính quyền huyện Trần Văn Thời đã quy hoạch và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của huyện đến năm 2010 theo mục tiêu: Khai thác và phát huy có hiệu quả các nguồn lực và tiềm năng của huyện để phát triển nhanh và bền vững gắn với bảo vệ môi trường sinh thái; đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, kết hợp phát triển ngư-nông-lâm nghiệp gắn với công nghiệp chế biến và dịch vụ; tập trung phát triển kinh tế biển và dịch vụ hậu cần nghề cá để hỗ trợ cho đoàn tàu đánh bắt xa bờ; phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân.

Một vùng đất ngập mặn, xen nước từ nhiều đời nay là thực trạng dẫn tới nhiều khó khăn trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, phát triển thủy sản nước ngọt. Chính vì vậy, khi có hiệu quả Chương trình “Ngọt hóa bán đảo Cà Mau” do Nhà nước tập trung đầu tư lớn, Đảng bộ, chính quyền huyện Trần Văn Thời đã mạnh dạn đầu tư, phát triển quy hoạch, kế hoạch thủy lợi, chuyển một diện tích đất đai khá lớn bị ngập mặn, nhiễm phèn trở thành vùng “ngọt hóa”. Vùng ngọt hóa huyện Trần Văn Thời nằm trong vùng quy hoạch ngọt hóa Bắc Cà Mau. Cơ cấu sản xuất là lúa, rau màu, cây ăn trái, cá đồng và các loại cây, con hệ sinh thái ngọt khác. Một số loại cây trồng phổ biến đã được người dân trên địa bàn huyện Trần Văn Thời nói riêng, trong vùng ngọt hóa phía Bắc tỉnh Cà Mau nói chung, trồng trong nhiều năm qua, có thể chế biến thành nhiều sản phẩm khác nhau và được người tiêu dùng ưa chuộng là chuối, đu đủ và bí đao. Diện tích chuối của huyện năm 2005 khoảng 2.500ha, sản lượng 23.100 tấn/năm; đu đủ khoảng 100ha, sản lượng khoảng 1.500 tấn/năm; bí đao dao động hằng năm từ 600 đến 800ha, sản lượng 18.000 tấn/năm. Các loại cây này được trồng nhiều trên các bờ bao quanh ruộng, xen canh với các loại cây khác trong vườn cây ăn trái, trên các bờ xáng; riêng bí đao được trồng nhiều trên đất ruộng sau khi thu hoạch lúa.

Đến nay, diện tích canh tác lúa ổn định trên toàn huyện khoảng 37.500ha, sản lượng lúa hằng năm đạt 200.000 tấn trở lên; đàn heo từ 100 đến 200 nghìn con, gia cầm từ 1 đến 1,2 triệu con. Diện tích nuôi thủy sản nước ngọt 12.500ha bao gồm nuôi kết hợp trồng lúa, trồng tràm, nuôi trong ao đìa; nuôi tôm 13.000ha trong đó nuôi luân canh trồng một vụ lúa 9.000ha. Sản lượng thủy, hải sản năm 2005: 81.000 tấn có 12.000 tấn tôm, năm 2010: 91.000 tấn có 16.000 tấn tôm. Riêng sản lượng khai thác biển hằng năm từ 70 đến 75 nghìn tấn. Ổn định diện tích đất lâm nghiệp có rừng thường xuyên 8.856 ha.

Theo tính toán của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cà Mau, trong điều kiện quy hoạch bố trí hệ thống thủy lợi khép kín phục vụ sản xuất, chủ động ngăn mặn giữ ngọt, huyện Trần Văn Thời có khả năng phát triển diện tích chuối lên 3.200ha, năng suất 15 tấn/ha, sản lượng 48.000 tấn/năm; đu đủ 500ha, năng suất 20 tấn/ha, sản lượng 10.000 tấn/năm; bí đao 1.200ha, năng suất 42 tấn/ha, sản lượng 50.400 tấn/năm. Cộng với khả năng phát triển trên địa bàn các huyện U Minh và Thới Bình, nâng tổng diện tích chuối trong toàn vùng “ngọt hóa” Bắc Cà Mau lên 6.220ha, sản lượng 93.300 tấn/năm; 760ha đu đủ, sản lượng 15.200 tấn/năm; 1.330ha bí đao, sản lượng 55.800 tấn và 485ha khóm, sản lượng 9.700 tấn/năm. Đây là điều kiện thuận lợi cho việc gắn kết vùng nguyên liệu phục vụ cho nhà máy chế biến.

Đảng bộ và chính quyền huyện Trần Văn Thời phấn đấu giá trị sản xuất (GO) từ nay đến 2010 tăng bình quân 11,5%/năm. Trong đó giá trị sản lượng Ngư nông lâm nghiệp tăng 7,75%; công nghiệp-xây dựng tăng 16,6%; các ngành dịch vụ tăng 16,5%. Hình thành cơ cấu kinh tế đến năm 2010 theo thứ tự trên là 47,4%; 21,1%; 31,5%. Giá trị tăng thêm bình quân đầu người đến năm 2010 khoảng 700USD. Toàn huyện phấn đấu tổng mức lưu chuyển hàng hóa xã hội tăng bình quân 15 - 16%. Khai thác tiềm năng và lợi thế để phát triển du lịch sinh thái và du lịch biển đảo bao gồm tuyến du lịch Vồ Dơi - Đá Bạc, du lịch Bà Tường, cụm đảo Hòn Chuối. Phát triển dịch vụ vận tải hàng hóa và hành khách, phấn đấu khối lượng vận chuyển, luân chuyển hàng hóa và hành khách tăng bình quân 14-15%. Phát triển dịch vụ bưu chính viễn thông, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, các dịch vụ kỹ thuật. Bình quân năm 2010 có 10 đến 12 máy điện thoại/100 người dân.

Với tiềm năng của vùng “ngọt hóa” huyện Trần Văn Thời nói chung, một số loại cây trồng nói riêng, UBND tỉnh Cà Mau đã giao Sở Kế hoạch và Đầu tư giúp huyện Trần Văn Thời trong việc kêu gọi các tổ chức, cá nhân có năng lực đầu tư xây dựng nhà máy chế biến trên địa bàn huyện, nhằm gắn liền sản xuất với chế biến và thị trường tiêu thụ. Mục đích tạo điều kiện cho việc phát huy các tiềm năng, thế mạnh về sản xuất nông nghiệp trong vùng ngọt hóa, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển sản xuất ngư - nông - lâm nghiệp của tỉnh theo hướng bền vững, đồng thời là điều kiện tốt cho các doanh nghiệp đầu tư các nhà máy chế biến nông sản, nâng cao giá trị hàng hóa từ vùng đất ngập mặn lâu đời, nay được “ngọt hóa”.

CHU MÃ GIANG