QĐND - Cách đây một năm, khi Tổng thống Mỹ B.Ô-ba-ma (B. Obama) tiến đến bắt tay Chủ tịch Cu-ba Ra-un Ca-xtơ-rô (Raul  Castro) trong lễ tang cựu Tổng thống Nam Phi N.Man-đê-la (Nelson Mandela), thế giới đã đồn đoán về một cái kết có hậu cho quan hệ căng thẳng trong suốt nửa thế kỷ giữa hai quốc gia. Và điều đó đã thành sự thật vào ngày 17-12, khi lãnh đạo hai nước đồng thời công bố quyết định tiến tới bình thường hóa quan hệ song phương trong thời gian tới.

Có thể nói, đây là sự kiện được nhân dân cả hai nước Cu-ba và Mỹ cũng như cộng đồng quốc tế mong đợi từ rất lâu.

Tổng thống Barack Obama lần đầu bắt tay với Chủ tịch Cuba Raul Castro tại tang lễ nhà lãnh đạo Nelson Mandela hồi tháng 12/2013. Ảnh: Reuters

Năm 1962, sau thất bại của vụ can thiệp Vịnh Con Lợn, Mỹ bắt đầu áp dụng lệnh cấm vận toàn diện với Cu-ba. Kể từ đó, mỗi Tổng thống Mỹ lên cầm quyền đều củng cố lệnh này. Đến năm 1992, Oa-sinh-tơn lại đưa ra Đạo luật Helms-Burton trừng phạt bất cứ công ty nước ngoài nào làm ăn, giao dịch với Cu-ba.

Khỏi phải nói “bức tường” mà Mỹ dựng lên nhằm cô lập Cu-ba với thế giới bên ngoài đã gây thiệt hại to lớn thế nào với đất nước này. Chính phủ Cu-ba ước tính, trong hơn nửa thế kỷ qua, việc phong tỏa của Mỹ đã gây tổn thất tài chính vào khoảng 1,1 nghìn tỷ USD. Trong khi đó, dù bao vây, cấm vận Cu-ba trong suốt hơn 50 năm qua, nhưng thật trớ trêu, nhiều người Mỹ lại cho rằng, chính nước Mỹ mới phải trả giá lớn hơn vì cuộc cấm vận. Các công ty Mỹ bị thiệt hại nặng vì đã không làm ăn được với Cu-ba, chưa kể những cơ hội kinh doanh lớn ở Cu-ba trong tương lai. Thống kê của Roi-tơ cho hay, trong 54 năm cấm vận Cu-ba, kinh tế Mỹ cũng thiệt hại 1,2 tỷ USD mỗi năm.

Ngoài ra, xét về mặt chính trị, chính sách cấm vận chống Cu-ba  là chướng ngại vật lớn nhất trên con đường cải thiện quan hệ của Mỹ với các nước Mỹ La-tinh. Thế giới cũng không đồng tình với lệnh cấm vận của Oa-sinh-tơn. Liên tiếp hơn 20 năm, LHQ đã thông qua nghị quyết kêu gọi chấm dứt lệnh cấm vận kinh tế toàn diện và các lệnh trừng phạt của Mỹ nhằm vào Cu-ba.

Có lẽ vì thế mà một mối quan hệ “bình thường” giữa hai quốc gia cách nhau vỏn vẹn 90 hải lý đã hơn một lần được lãnh đạo hai bên nhắc tới.

Một trong những câu hỏi được nhiều người đặt ra đó là vì sao Tổng thống Mỹ lại chọn thời điểm này để bình thường hóa quan hệ với Cu-ba?

Cần phải nhấn mạnh rằng để đạt được thỏa thuận lịch sử trên, Cu-ba đã nhất trí trả tự do cho nhân viên hợp đồng của Cơ quan phát triển quốc tế Mỹ (USAID) A. Grô-xơ (Alan Gross)-một điệp viên làm việc cho chính phủ Mỹ bị kết án tù tại Cu-ba, trong khi Oa-sinh-tơn trả tự do cho 3 chiến sĩ tình báo Cu-ba bị giam giữ tại các nhà tù ở Mỹ. Dù động thái trên được coi là bước đột phá ngoại giao cần thiết giữa hai nước, nhưng chính những thay đổi chính trị (nhu cầu) nội tại cả hai bên đã tạo điều kiện cho việc bình thường hóa.

Quyết định phá băng trong quan hệ với Cu-ba được Tổng thống Ô-ba-ma đưa ra trong bối cảnh sự ủng hộ trong cộng đồng người Cu-ba ở Mỹ đối với việc bình thường quan hệ và bãi bỏ cấm vận chống Cu-ba đang có bước chuyển biến tích cực. Kết quả thăm dò mới nhất cho thấy, hiện có khoảng 60% người Mỹ gốc Cu-ba được hỏi ý kiến ủng hộ việc bình thường hóa quan hệ Mỹ - Cu-ba, riêng giới trẻ có tới 90% ủng hộ. Trong một cuộc khảo sát khác của tờ The New York Times thì cứ 10 người Mỹ thì có 6 người ủng hộ cải thiện quan hệ với Cu-ba.

Từ khi kế nhiệm anh trai vào năm 2006, Chủ tịch Cu-ba Ra-un Ca-xtơ-rô đã ban hành một loạt biện pháp cải cách kinh tế và xã hội, đạt được những thành công nhất định. Thời gian gần đây, người ta đã nhắc nhiều tới thuật ngữ “Cu-ba cải cách”. Dường như, những bước khởi đầu của các thị trường tín dụng, bất động sản… hứa hẹn sẽ đưa quá trình chuyển biến của Cu-ba đi xa hơn nữa. Tất cả những điều đó đã khiến cho Cu-ba đang ngày càng trở nên hấp dẫn hơn trong con mắt giới doanh nghiệp nước ngoài, trong đó có Mỹ.

Về chính trị, Cu-ba đã làm trung gian hòa giải rất thành công để đạt được hòa bình giữa chính phủ Cô-lôm-bi-a với lực lượng phiến quân cách mạng FARC, khiến việc Mỹ gán cho Cu-ba quy chế “quốc gia bảo trợ khủng bố” càng trở nên lỗi thời và vô lý. Bên cạnh đó, các nước Mỹ La-tinh cũng mong muốn Cu-ba hội nhập mạnh mẽ vào các thể chế khu vực.

Chính vì thế mà Tổng thống Ô-ba-ma đã phát biểu tại Oa-sinh-tơn hôm 17-12 rằng, cách tiếp cận của Mỹ với Cu-ba đã lỗi thời và việc bình thường hóa quan hệ với Cu-ba là việc “có ý nghĩa nhất” trong chính sách của Mỹ với Cu-ba hơn 50 năm qua.

Về phía Cu-ba, những năm chống chọi với cấm vận đã khiến hòn đảo can trường này gặp không ít khó khăn. Những nỗ lực cải cách của Ha-ba-na đang gặp phải trở ngại do tình trạng tài chính eo hẹp. Theo dự đoán của chính phủ, mức tăng trưởng kinh tế năm nay của Cu-ba chỉ đạt mức 1,4%, rất nhiều doanh nghiệp tư nhân mới mở phải đóng cửa và nền kinh tế không thu hút được nguồn vốn nước ngoài. Trong khi đó, mỗi năm, lượng kiều hối gửi về Cu-ba đạt mức 2 tỷ USD, mà chủ yếu là từ Mỹ. Theo các chuyên gia, con số này sẽ còn tăng cao hơn nữa nếu các lệnh cấm vận kinh tế được nới lỏng. Bên cạnh đó, việc bình thường hóa quan hệ ngoại giao, thương mại là cơ hội để tầng lớp thương nhân Cu-ba có cơ hội phát triển khi được phép giao dịch thương mại, tài chính với thị trường lớn như Mỹ.

Hiếm có một quyết sách nào của Tổng thống Ô-ba-ma trong hai nhiệm kỳ cầm quyền nhận được sự hoan nghênh lớn như lần này, từ nhiều người dân Mỹ cho đến lãnh đạo cấp cao các nước, Liên minh châu Âu và LHQ. Tuy nhiên, như Chủ tịch Ra-un Ca-xtơ-rô đã nhấn mạnh trong bài phát biểu của mình rằng, điều này không có nghĩa là vấn đề chính đã được giải quyết. Để hai bên thực sự bình thường hóa thì chính sách bao vây cấm vận kinh tế, tài chính và thương mại cần phải được dỡ bỏ.

Nhưng điều này không phải dễ dàng.

Những biện pháp trừng phạt suốt hơn 50 năm không dễ gì thay đổi trong ngày một ngày hai, trong khi Đảng Cộng hòa, vốn kiểm soát hai viện Quốc hội Mỹ, đã lên tiếng phản đối và cho biết, sẽ tìm mọi cách ngăn cản chính sách của ông Ô-ba-ma nhằm bình thường hóa quan hệ với Cu-ba. Nên nhớ rằng, trong số những điều được đề cập trong chính sách của Tổng thống Ô-ba-ma, có những vấn đề phải được Quốc hội Mỹ thông qua. Như thế, con đường đi đến bình thường hóa quan hệ một cách hoàn toàn và thực chất vẫn còn nhiều trở ngại.

Bên cạnh đó, với lịch sử quan hệ phức tạp giữa Mỹ và Cu-ba, sau khi bình thường hóa, quan hệ hai nước sẽ không tránh được những thời điểm thăng trầm, bởi hai bên vẫn còn rất nhiều khác biệt trong các vấn đề như chủ quyền quốc gia, dân chủ, nhân quyền và chính sách đối ngoại. Do đó, các nhà lãnh đạo cả hai phía sẽ phải nỗ lực nhiều để đối mặt và xử lý các tình huống theo hướng xây dựng.

Dù sao đi nữa, quyết định tái thiết lập quan hệ ngoại giao cũng cho thấy, cả Cu-ba và Mỹ đã sẵn sàng cho một mối quan hệ cùng chung sống trên cơ sở tôn trọng những khác biệt và quyết tâm giải quyết những bất đồng. Tuy đây mới chỉ là bước đi đầu tiên trong quá trình dài trước mắt, song sự kiện này là bước ngoặt quyết định, tạo điều kiện để hai bên xích lại gần nhau hơn, tìm lại sự tin tưởng lẫn nhau để hướng tới một tương lai phát triển bền vững và ổn định ở khu vực, đáp ứng nguyện vọng chính đáng của nhân dân hai nước.

NGỌC HÀ