QĐND - Theo Hiến pháp và pháp luật hiện hành, việc thực hiện nghĩa vụ quân sự (NVQS) ở Việt Nam là nghĩa vụ bắt buộc, các hành vi vi phạm phải xử lý về hành chính hoặc hình sự. Chính sách tạm hoãn, tạm miễn thực hiện NVQS cũng đã được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, trên thực tế, việc thực hiện nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc ở Việt Nam chưa được công bằng…
Điều 77 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân. Công dân phải làm NVQS và tham gia xây dựng quốc phòng toàn dân”.
 |
|
Ảnh: Hội thảo về “Nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc của công dân được quy định trong Hiến pháp năm 1992 và những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung”. Ảnh: Phúc Thịnh
|
Quy định này là sự kế thừa các bản Hiến pháp trước đây và đã được cụ thể hóa trong Luật Nghĩa vụ quân sự và các văn bản quy phạm pháp luật khác, góp phần đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và xây dựng nền quốc phòng toàn dân, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước trong thời kỳ hội nhập quốc tế.
Trong những năm qua, việc thực hiện pháp luật về nghĩa vụ quân sự đã đạt được những kết quả nhất định. Chất lượng tuyển quân, đào tạo, huấn luyện được nâng lên. Chế độ, chính sách đối với quân nhân tại ngũ được cải thiện… đã góp phần nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Tuy nhiên, việc thực hiện NVQS cũng đã bộc lộ nhiều vướng mắc, bất cập. Báo cáo số 145/BC-UBQPAN13 của Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội về kết quả giám sát việc thi hành pháp luật về nghĩa vụ quân sự và công dân phục vụ có thời hạn trong Công an nhân dân nêu rõ: “Trong quá trình thực hiện Luật Nghĩa vụ quân sự và Điều 7 Luật Công an nhân dân về công dân phục vụ có thời hạn trong Công an nhân dân đã xuất hiện nhiều vấn đề bất cập nhưng chưa có giải pháp xử lý như: Bảo đảm công bằng xã hội giữa công dân phục vụ tại ngũ và công dân không phục vụ tại ngũ, giữa công dân phục vụ tại ngũ và công dân phục vụ có thời hạn trong Công an nhân dân; con em nông dân phục vụ tại ngũ ngày càng tăng, con em các thành phần khác trong xã hội phục vụ tại ngũ ngày càng giảm; tỷ lệ công dân có trình độ cao đẳng, đại học chỉ chiếm khoảng 0,64% tổng số thanh niên nhập ngũ hằng năm trong khi tổng số sinh viên trung bình các năm gần đây thường trên 1,5 triệu người (chiếm 50% tổng số công dân trong độ tuổi nghĩa vụ quân sự).
Công tác đăng ký, quản lý công dân trong độ tuổi nghĩa vụ quân sự còn nhiều khó khăn. Một bộ phận công dân đã có việc làm, có trình độ học vấn cao, có chuyên môn kỹ thuật và con em cán bộ, công chức, các gia đình có điều kiện kinh tế thực hiện nghĩa vụ quân sự tại ngũ chưa nhiều (chỉ chiếm 4,94%) và có xu hướng giảm; con em nông dân, người chưa có việc làm chiếm số đông (hơn 80%) và có xu hướng tăng; tỷ lệ con em là người dân tộc thiểu số còn thấp (khoảng 14%). Trong điều kiện số công dân nhập ngũ hằng năm chỉ chiếm 0,12% tổng dân số và 5,87% tổng số công dân nam trong độ tuổi 18-25 nhưng vẫn có địa phương cho phép điều chuyển từ nơi này sang nơi khác để bù cho đủ chỉ tiêu được giao”.
Để bảo đảm công bằng xã hội, ngoài quy định của Luật NVQS, thì một số hình thức để thực hiện NVQS và trách nhiệm của công dân trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân cũng được pháp luật công nhận là đã hoàn thành NVQS, như: Khoản 2 Điều 8 (Chế độ phục vụ của sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ, công nhân, viên chức Công an nhân dân) của Luật Công an nhân dân quy định: “Công dân phục vụ trong Công an nhân dân được miễn thực hiện NVQS tại ngũ”; khoản 2 Điều 49 (Chế độ, chính sách đối với dân quân thường trực) của Luật Dân quân tự vệ quy định: “Dân quân nòng cốt đã hoàn thành nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ, trong đó có ít nhất 12 tháng làm nhiệm vụ dân quân thường trực thì được miễn thực hiện NVQS tại ngũ..:”; khoản 2 Điều 31 (Chế độ, chính sách đối với người làm công tác cơ yếu) của Luật Cơ yếu quy định: “Người làm công tác cơ yếu không phải là quân nhân, Công an nhân dân thì được hưởng chế độ tiền lương và phụ cấp, các chế độ, chính sách khác như đối với quân nhân và được miễn thực hiện NVQS tại ngũ”…
Tại Kết luận số 20-KL/TW ngày 25-5-2012 của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về Tổng kết việc thi hành Hiến pháp năm 1992 và những nội dung cơ bản về sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã nêu: “Có quy định để bảo đảm công bằng trong việc thực hiện nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc của công dân”.
Việc thể chế hóa quan điểm chỉ đạo của Bộ Chính trị trong lần sửa đổi Hiến pháp năm 1992 là yêu cầu hết sức cần thiết, là một trong những căn cứ pháp lý vô cùng quan trọng và cần thiết để sửa đổi, cụ thể hóa trong Luật Nghĩa vụ quân sự hiện hành, dự kiến sẽ trình Quốc hội khóa XIII cho ý kiến tại kỳ họp thứ 7 và thông qua tại kỳ họp thứ 8 năm 2014.
Để làm rõ hơn vấn đề này và phục vụ việc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992, mới đây, tại Hà Nội, Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội đã phối hợp với Bộ Quốc phòng và các cơ quan hữu quan tổ chức Hội thảo “Nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc của công dân quy định trong Hiến pháp năm 1992 và những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung”. Kết quả hội thảo cho thấy, các quy định của pháp luật về nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc của công dân đã bộc lộ một số bất cập, đó là: Công bằng xã hội giữa người thực hiện và người không thực hiện nghĩa vụ quân sự tại ngũ. Luật quy định chế độ phục vụ có thời hạn trong Công an nhân dân, nhưng do Hiến pháp không quy định nên cần nghiên cứu để có sự thừa nhận chính thức và bảo đảm công bằng đối với công dân phục vụ có thời hạn trong nghĩa vụ quân sự; vấn đề bảo đảm để mọi công dân có cơ hội thực hiện nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc; chế độ, chính sách đối với hạ sĩ quan, chiến sĩ và lực lượng dự bị động viên; vấn đề giáo dục công dân về quyền và nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc để thu hút được thanh niên có trình độ cao về văn hóa và chuyên môn, nghiệp vụ vào phục vụ tại ngũ đang đòi hỏi phải quan tâm xử lý…
|
“Trong điều kiện Nhà nước ta không đủ điều kiện về cơ sở vật chất, kinh phí, trang thiết bị… bảo đảm cho công tác gọi tất cả số nam công dân của cả nước trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự từ 18 đến 25 tuổi (trừ đối tượng tạm hoãn, tạm miễn) vào phục vụ trong lực lượng vũ trang như ở một số nước, thì yêu cầu bảo đảm công bằng trong thực hiện nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc, nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường rất cần được quan tâm”.
Báo cáo của Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội. |
Gần đây, nhiều người do chưa hiểu rõ bản chất của việc thay thế nghĩa vụ quân sự và cho rằng, việc thay thế nghĩa vụ quân sự là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân chủ yếu bằng hình thức nộp tiền là không thể chấp nhận được.
Theo nghiên cứu của chúng tôi, việc thực hiện các hình thức phục vụ thay thế nghĩa vụ quân sự chỉ nên áp dụng đối với những công dân không thuộc diện tạm hoãn, tạm miễn phải làm những công việc chủ yếu liên quan đến chuyên môn, ngành nghề của mình theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền với thời hạn thường dài hơn thời hạn phục vụ tại ngũ trong quân đội. Việc thực hiện các hình thức thay thế này sẽ bảo đảm công bằng hơn, đồng thời tiết kiệm được ngân sách Nhà nước và góp phần đáng kể vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Khi hoàn thành nhiệm vụ này, họ đương nhiên được pháp luật coi là đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự và chỉ phải tham gia lực lượng dự bị động viên. Như vậy, hoàn toàn không phải việc thay thế nghĩa vụ quân sự chỉ là bằng tiền.
Tham khảo Hiến pháp của một số quốc gia đã có những quy định cụ thể về các hình thức phục vụ dân sự thay thế việc thực hiện NVQS tại ngũ, như: Hiến pháp nước Cộng hòa Bê-la-rút, tại Điều 57 quy định: “Bảo vệ nước Cộng hòa Bê-la-rút là nghĩa vụ thiêng liêng của công dân nước Cộng hòa Bê-la-rút. Trình tự thực hiện NVQS, căn cứ, điều kiện miễn thực hiện NVQS hoặc thay bằng phục vụ dân sự theo quy định của luật”.
Hiến pháp Liên bang Nga, tại Điều 59 cũng quy định: “(1). Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ và trách nhiệm của công dân Liên bang Nga. (2). Công dân Liên bang Nga thực hiện NVQS theo quy định của luật. (3). Công dân Liên bang Nga trong trường hợp vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo mà không thực hiện NVQS hoặc trong những trường hợp do luật quy định thì có quyền thay bằng hình thức phục vụ dân sự”.
Để cụ thể hóa chế định này của Hiến pháp, các nước trên đã ban hành luật và các văn bản chuyên ngành điều chỉnh vấn đề này, theo đó đã quy định khá cụ thể về các điều kiện, đối tượng, các công việc, ngành nghề, lĩnh vực, địa bàn, trình tự thực hiện, thời hạn thực hiện nghĩa vụ thay thế phù hợp với từng loại công việc (thông thường là dài hơn thời hạn phục vụ tại ngũ trong lực lượng vũ trang).
Ths ĐOÀN PHÚC THỊNH (Phó vụ trưởng Vụ Quốc phòng và An ninh Văn phòng Quốc hội)