Cựu chiến binh Giang Thanh Bình ở tuổi 80 vẫn khá nhanh nhẹn. Ông sôi nổi kể về những ký ức không bao giờ quên của 50 năm trước. Vào mùa xuân 1959 được lệnh đi nhận nhiệm vụ đặc biệt, chưa biết đi đâu, làm gì nhưng ai cũng thấy vui. Trước buổi họp, lính ta đúc kết thành 5 cái cùng: Cùng lính tình nguyện chống Pháp, cùng quê Khu 5, cùng tập kết ra Bắc, cùng Trung đoàn 105 và sau 3 năm xây dựng chính quy cùng đi xây dựng khu công nghiệp Việt Trì trên quê hương đất Tổ. Được giao nhiệm vụ mới sẽ là “sáu cùng” trong cuộc đời binh nghiệp.
Yêu cầu nhiệm vụ cách mạng “trúng” nguyện vọng cháy bỏng của người chiến sĩ. Sau đợt bồi dưỡng cấp tốc, được đi tham quan di tích danh thắng ở Thủ đô Hà Nội, mọi người lên tàu về phương Nam. Đặt chân lên đất Lệ Thủy mới thấy “mùi gian khổ” nhưng những nụ cười vẫn không bao giờ tắt. Vừa hành quân vừa tập gùi ban đêm, từ 20 lên 30kg, trèo đèo lội suối. Mấy năm quen chân giày, nay đi đất, chống gậy. Thay quân phục bằng quần áo bà ba, rồi trang bị cá nhân như dao găm, võng, tất tay, màn trùm đầu chống muỗi, thuốc chống vắt… Ông Bình bồi hồi: “Đến đây chúng tôi mới biết quân số thuộc Đoàn 70, toàn người Khu 5”. Đơn vị có nhiệm vụ mở tuyến giao liên Trường Sơn-con đường thống nhất. Anh Chính người Quảng Ngãi là Đoàn trưởng; cấp trên nữa là Đại tá Võ Bẩm.
Vào khoảng cuối tháng 5, từ làng Ho (Vĩnh Linh) đoàn quân đi ngược dòng sông Bến Hải, gặp dãy Trường Sơn, lội qua sông là được đặt chân lên đất miền Nam, ai cũng thấy xúc động khó tả. Nhiệm vụ đầu tiên là lập các trạm, cứ khoảng 10km đặt một trạm, để lại 10 đến 12 người. Khẩu hiệu “đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng” bắt đầu từ đây. Mỗi đêm thường đi 8 đến 10 tiếng, mang 25kg hàng, giao cho trạm phía trong. Trên lưng là gùi mây thồ súng đạn, thuốc men, tài liệu… Sau lưng là những miếng gỗ mục có chất lân tinh để người sau bám đoàn. Phần thưởng lớn nhất đối với anh là được kết nạp vào Đảng, ngày 21-10-1959 ngay trên đường mòn Trường Sơn.
Nhu cầu chi viện cho tiền tuyến lớn ngày một tăng, tháng 2-1960, Bình được chuyển sang tây Trường Sơn chỉ huy trung đội xe đạp thồ 30 chiến sĩ. Anh là trung đội trưởng cũng nhận một xe Phượng Hoàng. Mỗi xe ít nhất cũng chở được tạ rưỡi, có người hai tạ, gấp 4-5 lần gùi bộ. Sang 1964, xe đạp thồ gác lại, nhường đường cho xe ô tô tải loại nhỏ-Gát 69B. Đường tây Trường Sơn mở rộng thành nhiều tuyến và kéo dài vào phía Nam, đi các chiến trường. Đại đội do Bình chỉ huy chuyển sang xây dựng kho, bốc hàng, làm đường, đào hầm phòng không cho lái xe… Giữa năm 1965 anh được ra Bắc, học bổ túc ở Trường sĩ quan Lục quân sáu tháng. Sau khóa học được thăng quân hàm thiếu úy, đến Đoàn 967 (Binh đoàn 559) chờ nhận nhiệm vụ.
Đọc lý lịch thấy Bình chưa có vợ, đã ở tuổi 37, Chính ủy đoàn gọi lên hỏi nguyện vọng. Anh đề nghị xin nghỉ phép đặc biệt và một giấy giới thiệu về khu Gang Thép Thái Nguyên, tìm vợ. Chính ủy bị bất ngờ khi Bình giải thích ở đó có đông bộ đội chuyển ngành, sẽ nhờ những người từng là lính giúp đỡ. Xuống ga Lưu Xá, Bình tự tin đi thẳng đến Văn phòng Tổng đội 3 xây lắp lò cao. Bí thư chi bộ cũng từng là lính, tuy lần đầu mới biết nhau nhưng “ông mối” Nguyễn Công Sự đã bị người đồng hương chinh phục. Ông điểm mấy người, cuối cùng vun vén cô thợ sơn Vũ Thị Phượng cho anh. Phượng từ Nga Sơn (Thanh Hóa) lên công trường Gang Thép từ 1960, lúc 20 tuổi. Theo ông, Phượng là một cô gái nết na, lao động giỏi, ưa nhìn, một đảng viên tốt. Còn Phượng gặp Bình ngay từ lúc đầu đã rung động bởi lời nói thật thà, dáng cao, khỏe mạnh. Duyên số trời xe chẳng khác huyền thoại, như “Rượu Hồng Đào chưa nhấm đã say”.
Sau ngày cưới, họ sống bên nhau được 10 ngày. Anh về đơn vị tiếp tục huấn luyện đi B, ít lâu sau chuyển vào Đoàn công binh 217 Trường Sơn. Sau Chiến dịch đường 9-Nam Lào 1970-1971, mắt anh bị mờ, được ra Bắc an dưỡng, mấy năm sau nghỉ hưu.
Miền Nam hoàn toàn giải phóng, anh mới có dịp về thăm quê ở xóm Hiền Lương, huyện Thăng Bình, Quảng Nam. Hai chục năm xa cách, năm anh chị em còn sống ôm nhau trong tiếng cười và nước mắt.
Nay ở tổ dân phố số 20, phường Trung Thành, thành phố Thái Nguyên, từ một hộ ông bà và hai cô con gái bên Quốc lộ 3, nay thành 3 cơ ngơi với những ngôi nhà hai tầng khang trang. Ông bà có 4 cháu: Ba trai, một gái. Hai người con rể đều là những cựu chiến binh lớp trẻ, cán bộ, đảng viên của công ty Gang Thép Thái Nguyên. Hai cô con gái là những công nhân lành nghề. Cả gia đình lớn sống với nhau thật hạnh phúc.
Kỷ niệm 50 năm ngày mở đường Hồ Chí Minh huyền thoại, ông càng xúc động nhớ những ngày đi mở đường về Nam, tuổi Đảng của ông cũng tròn 50. Ông tâm sự: “Trưởng thành từ thử thách Trường Sơn. Cuộc đời mãi mãi vẫn là ý chí xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”.
PHAN LÂU