"Còn cái lớn lao chung:Ấy là dân tộc". Đó là một câu trong bài báo nổi tiếng mang tựa đề Nhận đường của nhà văn Nguyễn Đình Thi. Bài báo được viết trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp giành lại độc lập tự do cho dân tộc, ghi nhận một tâm trạng, một tình huống đặc biệt của một số không ít người viết văn, làm nghệ thuật từ chế độ cũ bước vào cách mạng, lên chiến khu kháng chiến.
Với họ, bao nhiêu là bỡ ngỡ, dằn vặt, khó khăn giống như "
một cuộc lột vỏ… da non mới mọc chưa lành, một chút gì chạm phải cũng rỏ máu". Nhưng với khẩu hiệu "
Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến", "
Tất cả cho kháng chiến", "Tổ quốc trên hết" họ đã cùng dân tộc vượt qua tất cả. Đi kháng chiến bằng niềm tin và tài năng của mình, họ đã như được "
bước từ một thời đại lịch sử sang một thời đại mới".
 |
| Bác Hồ chụp ảnh với các nhà báo và văn nghệ sĩ tại Việt Bắc năm 1950 (Ảnh: Tư liệu). |
Cho đến hôm nay, 60 năm kể từ Ngày Toàn quốc kháng chiến (19-12-1946) có lẽ vẫn chưa có một người làm văn học sử nào thống kê được phong trào ấy có bao nhiêu văn nghệ sĩ tham gia, nhưng có một điều biết được rất rõ là phong trào ấy đã thu hút hàng trăm nhà văn, nghệ sĩ, trí thức ở khắp các miền của đất nước từ Việt Bắc, Tây Bắc vào mãi Trung Bộ, Tây Nguyên, từ cố đô Huế ra Hà Nội, ra khu ba, khu bốn, vào Sài Gòn, vào mãi miền Tây, miền Đông Nam bộ xa xôi.
Tại khu 4, trên mảnh đất Quần Tín (Thanh Hóa) có nhiều anh chị em văn nghệ sĩ từ Hà Nội, từ khu ba vào như: Sĩ Ngọc, Phạm Văn Đôn, Nguyễn Thị Kim, Nguyễn Đức Hùng (họa sĩ), Phạm Văn Chừng (nhạc sĩ), Nguyễn Đình Lạp, Bửu Tiến, Trọng Miên (tiểu thuyết, kịch tác gia)… Nhà văn lão thành Thanh Châu kể: "Hồi đó ở Ban Văn nghệ (phòng chính trị Quân khu 4) được một thời gian, các văn nghệ sĩ được phân công đi khắp các mặt trận từ chiến khu Ba Lòng (Quảng Trị) đến chiến khu Ngọc Trạo (xứ Thanh). Riêng Nguyễn Đình Lạp-"vua phóng sự đất Hà Thành"-được phân công về với đại đoàn 304. Ở đây ông đã viết những tác phẩm như Thôn Lệ Sơn, Cảnh Dương chiến đấu nổi tiếng”.
Ở Nam bộ, Ban tuyên huấn Bộ tư lệnh chiến khu 8, căn cứ Tháp Mười và cả khu vực "miền Đông gian lao và anh dũng" cũng trở thành nơi hội tụ của những văn nghệ sĩ kháng chiến, trong đó có những tên tuổi như: Huỳnh Văn Nghệ-"tướng quân thi sĩ", Diệp Minh Châu, Hoàng Tuyển-những họa sĩ đã chích máu mình để vẽ chân dung Bác Hồ kính yêu, Bảo Định Giang-tác giả của câu ca dao bất hủ: Tháp Mười đẹp nhất bông sen/ Nước Nam đẹp nhất có tên Cụ Hồ… rồi tiếp đến là Hoàng Văn Bổn, Nguyễn Thi, Xuân Miễn-những nhà văn trẻ của Vệ quốc quân.
Việt Bắc, "Thủ đô" kháng chiến là nơi có phong trào văn nghệ sĩ đầu quân đông đảo hơn cả. Tại đây, ngay từ năm 1947 đã thấy những Thâm Tâm-tác giả Tống biệt hành, Nguyễn Công Hoan-tác giả Kép Tư Bền, Bước đường cùng, Tố Hữu-tác giả Từ ấy, Tân Sắc rồi Mai Văn Hiến, Dương Bích Liên-những họa sĩ tốt nghiệp Cao đẳng mỹ thuật Đông Dương… làm việc trong Bộ biên tập báo Vệ quốc quân (tiền thân của báo Quân đội nhân dân). Ở các đoàn văn công quân đội cũng có không ít những "văn nghệ sĩ tiền chiến" tham gia, trong đó có Thanh Tịnh-tác giả Quê mẹ, người có tên trong Thi nhân Việt Nam xuất bản năm 1942, có Thế Lữ-tác giả Nhớ rừng, có Phạm Văn Khoa, Nguyễn Xuân Khoát…
Từ biệt chốn thị thành “lên ngàn”, đầu quân đi tham gia kháng chiến một cách tự nguyện là bước ngoặt lớn trong cuộc đời các nghệ sĩ, đồng thời đó còn là một hiện tượng của lịch sử văn học, nghệ thuật Việt Nam. Hình ảnh các văn nghệ sĩ tham gia kháng chiến đã được báo chí bấy giờ ghi lại như những hình ảnh sáng đẹp nhất, đáng tự hào nhất của giới văn nghệ nước nhà.
Trong bài Văn nghệ sĩ đầu quân (Tạp chí Văn nghệ số 11, 12-1949) tác giả Thao Trường (một bút danh của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng) viết: “Thế Lữ cũng đầu quân. Nhiều bạn băn khoăn cho Thế Lữ. Không ai lạ Thế Lữ yếu. Thế Lữ bị một “thói quen” đòi hỏi gay gắt. Thế Lữ cần phải có những săn sóc hằng ngày, tỉ mỉ và đầm ấm mà đời sống bộ đội thì không thể bảo đảm. Nhưng anh đã xông xáo đi, điều khiển ban kịch của Đoàn sân khấu… Mũ dạ trên đầu để lộ mái tóc hoa râm, một bên lưng là chiếc mặt nạ nhỏ xíu, tượng trưng cho sân khấu, hành lý kịch trong cặp và trong người. Thế Lữ còn ồ à, nhưng bước đi đã lính. Vẫn trong bài đã dẫn, Nguyễn Huy Tưởng kể về Nguyễn Xuân Khoát: “Dọc đường đi dự Hội nghị văn nghệ bộ đội, tôi gặp ở bến xuống thuyền. Có một sự phân công lặng lẽ trong gia đình, trước khi nhạc sĩ đầu quân. Chị vào giúp việc trong một nhà hộ sinh. Anh con trai lớn Nghệ sĩ Nhân dân Nguyễn Đình Nghi sau này) cùng đi. Tôi gặp anh ngồi ăn bữa cơm gầy với con ở một quán Đoan Hùng, một buổi chiều mưa loáng bến. “Tôi cho cháu vào Thiếu sinh quân”. Bố con cùng nhập ngũ, chúng tôi cùng ngược bến Bình Ca, đàn ghi-ta, vi-ô-lông xen… chiếm đầy một khoang thuyền”.
... Và nói về Hoàng Lộc-tác giả của các tập thơ Lời thông điệp, Viễn phố, Từ hoàng hôn đến bình minh xuất bản trước Toàn quốc kháng chiến, nhà phê bình văn học Nhị Ca viết: “Gian khổ bắt đầu, nhưng lòng tin tưởng tuyệt đối vào tương lai của cách mạng lại vô cùng mạnh mẽ, sức trẻ bất chấp mọi thách thức, cứ làm việc không biết mệt. Đáng nhớ hơn nhiều là không khí những đêm khuya, trên cái nền âm thanh rì rào xúc động, điểm tiếng mang tác hổ gầm, tiếng cối giã gạo điểm nhịp ngoài suối, dưới ánh nến nhựa trám bập bùng, tuôn khói khét lẹt, Hoàng Lộc cởi trần, đầm đìa mồ hôi ngồi viết Chặt gọng kìm đương số 4 trong đó có bài thơ Viếng bạn nổi tiếng với những dòng chữ to như hòn bi, tập giấy bản hút mực nhòe nhoẹt. Anh vừa cùng Đông Hoài từ biên giới về, sau khi đã dự trận Bông Lau. Mắt anh sáng lên một cách kỳ lạ, ánh sáng của chút phân thân sáng tạo và của cơn sốt âm ỉ báo hiệu anh chớm bị bệnh lao” (Nhị Ca-bài Bắt đầu từ đội xung phong trung đoàn).
Sự có mặt của các văn nghệ sĩ lớp trước tại chiến khu đã tạo một môi trường văn nghệ, tạo đà cho sự xuất hiện của lớp nhà văn trẻ-các “nhà văn trung úy” ở bộ đội. Đó là những nhà văn “con đẻ” của cách mạng, của kháng chiến. Họ, lứa nhà văn đàn em không còn phải trải qua những cuộc “nhận đường”, những “cơn dằn vặt đến nhỏ máu” nữa mà cứ thế bước vào cuộc chiến đấu, bước vào văn học và tự hoàn thiện mình để trở thành rường cột, thành lực lượng chủ lực của nền văn học mới.
NGÔ VĨNH BÌNH