Tháng Tư, tháng Năm ùa về những kỷ niệm, hồi ức kháng chiến. Lính Điện Biên, lính Trường Sơn, lính 30 tháng Tư chợt như bước ra khỏi đời thường, chợt như thấy nhau là nhận ra ngay. Xốn xang những vui buồn, rì rầm ở quán nước, ở hành lang hội nghị, ồn ào quanh mâm cỗ làng hay bia bọt nơi hè đường, góc phố.

Một người bạn học, một đồng đội cũ đột nhiên hỏi tôi: “Điều mới nhất về Trường Sơn trong anh là gì?”. Độp một cái, hỏi khó thế ư? Khoan hãy nói gì xa xôi, ngay trong nhà tôi, thằng em lính Trường Sơn hồi ấy, suốt ngày hôm qua, hôm nay lại đang nằm trùm cả đống chăn mà vẫn rên hừ hừ về sốt rét tái phát. Nó đã ăn cơm Tây, sống dưới trời Âu gần chục năm mà không khỏi hẳn. Tôi may mắn hơn nhiều, nhưng người bạn ngồi trước mặt tôi đây nào có khác, ngày chiến thắng trở về đầu rụng hết tóc, da vàng bủng, cặp môi đã mấy chục năm không sao tươi lại được. Ông chú tôi ở quê nội từ ngày trở về không sinh thêm được đứa con nào nữa, đang đi cày sốt rét run lên, vun rạ nằm co giữa đồng. Ông cậu tôi ở quê ngoại là người to khỏe nhất họ, nhất làng mà bỗng cùng lúc đổ ra mấy chứng bệnh nan y rồi mất. Ngay nơi con phố náo nhiệt này, trong ngôi nhà này và phía sau, những ngôi nhà kia nữa, tại sao có những đứa con trai, con gái bây giờ đã ở tuổi thành niên mà vẫn ngơ ngơ ngẩn ngẩn? Bố chúng, có cả những nhà văn, nhà báo, đã từng qua, từng sống ở Trường Sơn, nhiễm bệnh, nhiễm chất độc hóa học mà sinh ra những đứa con như thế? Tôi chợt nhớ đến một nỗi niềm riêng của đồng đội Trường Sơn, ấy là khi anh chị nào sinh con, giữa muôn lời hỏi thăm, chúc mừng, sẽ có những câu thì thầm hỏi với vẻ âu lo, cảm thông đầy ẩn ý: “Đứa bé nguyên lành, bình thường chứ?”.

Trường Sơn vẫn hiện hữu dường như ở mỗi xóm phố, mỗi ngôi nhà Việt Nam. Và tháng Năm này, một tòa án lương tâm đang mở ra tại thành phố Pa-ri hoa lệ để nhắc nhớ, thức tỉnh loài người về một cuộc chiến tàn bạo vẫn còn bị che giấu, vẫn còn chưa bị lên án, kết án đúng với hậu quả hủy diệt kinh hoàng của nó. Gần 5 triệu người Việt Nam bị phơi nhiễm, 3 triệu người là nạn nhân trực tiếp, có phải đấy chính là một Hi-rô-si-ma và Na-ga-xa-ki trên đất Việt Nam?

*

* *

Đường Hồ Chí Minh trên địa bàn tỉnh Kon Tum. Ảnh: TTXVN

Bạn nhấp chén trà Thái này đi. Bạn nhớ chứ, một đêm bãi khách Trường Sơn chìm trong mưa, bạn giúp tôi đào hầm, rồi mắc tăng, buộc võng. Chiếc hăng-gô của bạn thật kỳ diệu, nấu được đủ thứ món từ cơm, canh, cháo đến rim ca la thầu, kho thịt… Và kỳ diệu chưa kìa, trong túi cóc ba-lô của cậu còn có cả một gói chè móc câu Tân Cương chính hiệu. Bằng con đường nào gói chè Thái ấy đến được với bạn? Lại còn gói ruốc thịt thơm quá. Mà ở binh trạm này còn có cả mùi thuốc lá Tam Đảo, Tam Thanh, Nhị Thanh, Đ’rao… tỏa mùi hương thơm khác hẳn thứ thuốc rê khét lẹt của bà con Vân Kiều cho chúng mình… Từ quê gửi vào cả đấy, đoàn quân tăng cường nào từ miền Bắc mà chả ối quà. Còn chè Blao, Bảo Lộc, bột ngọt, mì tôm “Hai cua xanh” là của bà con trong vùng địch gửi ra. Hậu phương phía sau, phía trước bao la, xa ngái mà gần gụi, sưởi ấm chúng mình. Nhưng chỉ một ấm trà thôi nhá, còn lại là để dành, dành cho người ốm, dè xẻn cho lúc toàn sắn, toàn rau rừng, quê ạ.

“Đồng hương ơi! Quê ơi”. Lính Trường Sơn, lính chiến trường xưa, nay đã bạc đầu vẫn gọi nhau như vậy. Chiến sĩ Điện Biên dạy cho chiến sĩ Trường Sơn. Chiến sĩ Trường Sơn lại dạy cho lớp đến sau, cho chiến sĩ bảo vệ biên giới, cho những đoàn quân tình nguyện ở Cam-pu-chia mọi điều để cho thành người lính, cho thành chiến sĩ. Bữa cơm Trường Sơn ngon nhất với rau ngót rừng, với cua ốc và tép suối nấu khế chua, với chè Thái tôi còn được gặp lại ở Cao Lộc, ở điểm cao 820 Lạng Sơn, ở Thanh Thủy, Hà Giang, trong những dặm đường mùa khô Xiêm Riệp, Ốt-đô-miên-chây, Bát-đom-bong, Biển Hồ Tông-lê Sáp… Trường Sơn hiện hữu, mở rộng theo lớp lớp không gian, tiếp nối qua chặng chặng thời gian. Những ngày trở lại miền Tây Quảng Trị thăm các công trường làm đường Hồ Chí Minh, trường học, công trình thủy điện, giữa ầm ào của ô tô chở đá, xe lu lăn đường, máy trộn bê-tông, tiếng mìn phá đá là những giờ phút yên ắng linh thiêng. Ấy là phút chiếc xe ủi đụng phải vật lạ, điều lạ trong sườn núi. Một nắm hương thắp lên, lại gặp được hài cốt các anh. Xin mời các anh về tề tựu đội ngũ ở Nghĩa trang liệt sĩ. Lính làm đường Trường Sơn bây giờ tâm sự: “Vong linh các anh thiêng lắm, cứ lần nào gặp là y như rằng công việc của chúng em cứ chạy băng băng”. Rừng Trường Sơn bây giờ đã xanh trở lại, bên những thân cây đã chết, trơ xương trắng, đen vì chất độc, vì bom đạn năm xưa, lại thêm những cánh rừng cao su, cà phê, hồ tiêu cùng tỏa hương thơm ngát. Hòa vào không gian hoa lá ấy là mùi hương khói thơ thoảng của những chiến sĩ Trường Sơn hôm nay tưởng nhớ lớp người đi trước, của những đồng đội Trường Sơn năm xưa vẫn từng người, từng tốp trở về, lần tìm từ những khe suối, đỉnh núi, hang đá mong gặp lại những hình ảnh, hương hồn anh em trong ký ức. Đã và chắc sẽ có một Trường Sơn tâm linh tri ân-Trường Sơn hương trầm tỏa mãi đến mai sau.

*

* *

Chúng tôi cho xe phóng nhanh trên đường Hồ Chí Minh thoáng rộng, phẳng phiu, để bù lại, để so sánh với những cung đường gian khổ năm xưa, để thả lòng trở lại với ước vọng lãng mạn thời trai trẻ “Xẻ dọc Trường Sơn”, hay để hướng về tương lai phía trước của con đường. Chỉ một năm nữa thôi, Đường Hồ Chí Minh thời đại mới sẽ thông suốt từ Pác Bó đến đất Mũi Cà Mau. Khởi nguồn từ Pác Bó, hòa quyện và mở mang, đi lên từ chiều sâu lịch sử, con đường theo thời gian cứ giàu có, bền vững thêm mãi ý nghĩa biểu tượng của ý chí Việt Nam-Hồ Chí Minh. Có con dân Việt Nam nào không khắc sâu trong tâm khảm của mình những lời nói như dao chém đá của Người: “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập…”. Quyết đoán lịch sử ấy đã làm nên Cách mạng Tháng Tám thành công, sinh thành nước Việt Nam mới, một sức mạnh dân tộc-quốc gia muôn người như một để mở tiếp Thiên sử vàng Điện Biên Phủ, để Trường Sơn cháy lên tiếp lửa chi viện của miền Bắc cùng Nam Bộ thành đồng.

“Hoành Sơn nhất đái vạn đại dung thân”- Trường Sơn là xương sống của non sông, là điểm tựa trường tồn dân tộc. Tôi vẫn nhớ từng có những học giả phương Tây cố tình hiểu “dung thân” là sự tách biệt miền đất phía nam với chiếc nôi sinh thành dân tộc phía bắc. Họ còn chứng minh sông Gianh, rồi sông Bến Hải-Hiền Lương – Vĩ tuyến 17 như là sự tiếp nối có tính truyền thống của sự phân chia, khác biệt, đối lập Bắc-Nam, Đàng Trong, Đàng Ngoài, sự phân chia đất nước Việt Nam thành ba xứ: Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ là sự hợp lý về địa lý, lịch sử và văn hóa... Có những trang sử đau thương tang tóc, nhưng có ý chí vượt lên, quyết không để đau thương lặp lại và có con đường để biến ý chí thành hiện thực của chân lý Hồ Chí Minh “Nước Việt Nam là một, Dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn song chân lý đó không bao giờ thay đổi”.

Cuối năm 2008 vừa qua, sau hơn ba chục năm đất nước hòa bình, thống nhất chúng ta mới tổ chức được một hội thảo khoa học lịch sử cấp quốc gia về Chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn. Lý do của sự chậm trễ là bởi định kiến và ẩn ức lịch sử về triều đình nhà Nguyễn quá nhu nhược mà mang tội bán nước không thể bào chữa. Nhưng lịch sử vốn là bức tranh không chỉ một màu, vốn luôn cần sự luận định khách quan, công bằng công và tội. Đất nước mở mang qua những thế kỷ dài với những tấm thân vì nước như Huyền Trân công chúa, với những trang sử kinh thành Thăng Long đỏ lửa đánh giặc đến từ phương nam tàn phá, với những dấu chân hành binh thần tốc ra bắc vào nam của Tây Sơn Quang Trung-Nguyễn Huệ… Tiếp nối sự nghiệp ấy là công cuộc mở nước, khẩn hoang đẫm mồ hôi và xương máu, đẫm tình nghĩa hòa bình, thân thiện hòa trộn cùng lý lẽ của binh đao chinh chiến thời Nguyễn. Đó là sự tiếp nối tất yếu khách quan của lịch sử.

*

* *

“Ngày xưa ta chỉ có đêm và rừng, ngày nay ta có trời, có biển…”. Đêm và rừng Việt Bắc, Tây Bắc cùng những chiến khu, những “cứ”, những “R” phương Nam cùng Trường Sơn hùng vĩ đã che chở, nuôi dưỡng, làm nên những trận địa xuất phát để ta mở mọi hướng tiến công. Có trời, có biển và ta biết cách làm chủ, bảo vệ bầu trời và biển cả. Chia lửa với phương Nam, với Trường Sơn, ta đánh thắng cả pháo đài bay, ta mở cả “Đường Hồ Chí Minh trên biển”… Thế trận thiên la địa võng của chiến tranh nhân dân, thế trận tất thắng ấy khởi nguồn từ trái tim yêu thương bao la của Người, để hòa nhịp triệu triệu con tim, để khơi lên sức chịu đựng, sức sáng tạo vô biên từ mỗi con người bình dị.

Tháng Năm, mùa mưa đã đến, những cánh rừng cao su, cà phê, hồ tiêu,… bật lên màu xanh ngăn ngắt tỏa bóng xuống con đường Hồ Chí Minh - Trường Sơn mới. Ngoài Biển Đông, rừng sao sa từ những đoàn thuyền đánh cá đang sáng lên mặt biển đêm đêm. Kia nữa, những cánh rừng giàn khoan dầu khí… Tôi đã gặp những chàng trai, cô gái con cháu của chiến sĩ Trường Sơn năm xưa trên Trường Sơn hôm nay. Tôi đã gặp những cháu con của những người lính đội Hoàng Sa kiêm quản Trường Sa thời Nguyễn, của các chiến sĩ đoàn tàu không số thời đánh giặc Mỹ trên các dặm khơi xa, trên đảo nổi, đảo chìm Trường Sa. Tôi đã thấy những cánh rừng hòa bình công nghiệp hóa, đã hiểu lớp lớp con cháu đã và đang từng ngày xứng đáng, đã làm giàu, làm đẹp, làm vững thêm Trường Sơn, Trường Sa. Phải mất 30 năm đánh giặc ở thế kỷ 20, non sông đất nước mới thu về một mối. Chặng đường đổi mới công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã đi hơn 20 năm, dù còn quanh co, trập trùng song một vạch đích phía trước – năm 2020 đã rất gần.

Bạn hãy gỡ những múi sầu riêng này đi, tháng Năm này đã rộ mùa hoa trái. Chợ Hà Nội, phố Hà Nội đang ngập tràn hoa trái phương Nam. Cũng dịp này thường niên, tôi đã thấy vải thiều, đào, mận bán ở các chợ Thành phố Hồ Chí Minh. Giá vải thiều ở vùng Bảy Núi, An Giang, ở xóm Đất Mũi, Cà Mau cũng không đắt hơn phía bắc bao nhiêu bạn ạ. Nước non liền một dải, Trường Sơn của chúng ta đã hiện hữu những mùa quả ngọt bạn ơi, quê ơi.

Tùy bút của MẠNH HÙNG