Trong cuộc Tổng tiến công Mậu Thân năm 1968, 11 cô gái thuộc Tiểu đội nữ du kích sông Hương đã góp phần cùng quân và dân ta làm nên một "Huế trung dũng, kiên cường". Suốt 25 ngày đêm khói lửa, Tiểu đội đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ dẫn đường đưa bộ đội tấn công các mục tiêu của địch phía bờ nam thành Huế. Chỉ bằng súng AK, lựu đạn... các nữ du kích đã đẩy lùi cả một tiểu đoàn thủy quân lục chiến Mỹ. Đó là Tiểu đội 11 cô gái sông Hương anh hùng. 5 chị của tiểu đội vừa có chuyến thăm miền Bắc, vào Lăng viếng Bác, thỏa nỗi ước mong...

Bia tưởng niệm chiến công của 11 cô gái sông Hương anh hùng đặt giữa lòng thành phố Huế thu hút nhiều cán bộ, chiến sĩ, nhân dân viếng thăm

Quê mẹ dịu dàng, kiên trung

Tháng 7-2009, tôi cùng với đoàn công tác của Nhà máy in Quân đội 1 do Đại tá Nguyễn Công Tuấn, Giám đốc nhà máy dẫn đầu vào thăm, tặng quà gia đình của 11 cô gái sông Hương. Đây là lần thứ hai tôi ghé thăm nhà của các mẹ, các chị. Cách thành phố Huế chừng hơn mười cây số, làng Vân Thê, xã Thủy Thanh (huyện Hương Thủy) yên bình nép bên bờ một con sông nhỏ. Phần lớn các chị sinh ra, lớn lên và từng tắm mát những trưa hè ở chính dòng sông quê ấy. Anh Ngọ, Chủ nhiệm chính trị, anh Cường, Chủ tịch công đoàn nhà máy, anh Hà, Chỉ huy trưởng Ban CHQS thành phố Huế... cùng thống nhất kế hoạch vào thăm mẹ Việt Nam anh hùng Đỗ Thị Bờ, mẹ của nữ liệt sĩ, anh hùng Phạm Thị Liên, Tiểu đội trưởng tiểu đội du kích năm xưa. Trong căn nhà nhỏ của mẹ, khói hương ngào ngạt. Đối diện với bàn thờ, trên tường nhà treo trang trọng 3 tấm bằng “Tổ quốc ghi công”... Mẹ Bờ năm nay đã ngoài 90 tuổi, tóc bạc, mắt mờ, nhưng miệng nhai trầu bỏm bẻm, vẫn tinh anh trò chuyện. Mẹ ôm đầu chị Nở, chị Hoa, chị Hợi, nhắc lại những kỷ niệm sâu nặng của một thời rồi quay sang nói với anh Tuấn, Giám đốc Nhà máy in: “Hồi đó tụi hắn còn nhỏ, nhưng gan lì lắm. Vừa làm giao liên, vừa chuẩn bị cách đánh trận, chờ ngày nổ súng...”.

Ngày nổ súng ấy là đêm 30 Tết Mậu Thân 1968. Tiểu đội nữ du kích chia thành 3 tổ dẫn đường cho ba cánh quân chủ lực đánh vào thành phố Huế. Mặt trận Huế vang dội tiếng súng của bộ đội chủ lực, biệt động thành và du kích khiến cho Mỹ, ngụy bị bất ngờ, mãi sau chúng mới tổ chức lực lượng mạnh phản công lại... Ít ngày sau, trong một trận đánh (rạng sáng ngày 12-2-1968) 4 người con gái tuổi thanh xuân ngã xuống. Trong một trận đánh khác, Tiểu đội trưởng Phạm Thị Liên và Tiểu đội phó Đỗ Thị Cúc cũng anh dũng hy sinh trong lòng đất Huế.

Nhà chị Cúc chỉ cách nhà chị Liên vài phút đi bộ. Trong ngôi nhà đơn sơ của người nông dân xứ Huế, mẹ Chế Thị Út nằm nghỉ trên giường. Sau cơn tai biến, mẹ chỉ nhìn chúng tôi chứ không thể nói được. Đại tá Nguyễn Công Tuấn đỡ mẹ dậy, tựa lưng vào chiếc xe lăn. Trao tặng mỗi mẹ một phần quà trị giá 5 triệu đồng, anh nói như giãi bày nỗi lòng: Ở dải đất miền Trung, ngay tại đất Huế, ở huyện Hương Thủy này, có rất nhiều gia đình chính sách như mẹ Út, mẹ Bờ... Đầu các mẹ mấy lần đội khăn tang. Liệt sĩ trong các gia đình nhiều lắm...

Giọng Huế nhỏ nhẹ, đằm thắm, chị Hoàng Thị Nở, Trưởng ban liên lạc của Tiểu đội nữ du kích từ tốn nói: Đất nước có chiến tranh, những người con phải ra trận là đương nhiên. Chỉ thương các mẹ năm tháng còn lại vẫn mãi đợi con về. Nói rồi chị quỳ xuống bên giường, ghé vào tai mẹ Út: “Mẹ ơi. Chúng con về đây thăm mẹ. Có cả các anh ở Nhà máy in Quân đội 1 từ Hà Nội vô nữa...”. Ánh mắt mẹ Út ngước nhìn những bộ quân phục mới. Giọt nước mắt từ từ lăn trên bờ mi.

Giống như chị Nở, những người còn lại của tiểu đội, chị Hợi, chị Hoa, chị Mừng... nay đều đã ở tuổi ngoài sáu mươi, vẫn đặc trưng nét Huế, nhẹ nhàng, dịu dàng. Vậy nhưng khi hỏi chuyện từng người, các “o” cứ o nọ chỉ o kia: “Tui à, có chi mô để kể. Hồi ấy, cả tiểu đội mần chung...”. Mãi rồi tôi cũng “ráp nối” được câu chuyện.

Ngày ấy, những cô gái mới 17 đến 22 tuổi ở xã Thủy Thanh, một xã vùng ven đô thành phố thấy cảnh hằng ngày địch tàn sát, bắt bớ, tra tấn cán bộ và người dân vô tội, nên sớm chất chứa căm thù. Được các anh chị lớn tuổi dìu dắt, “rủ đi làm cách mạng”, các chị được giáo dục, rèn rũa dần. Hàng ngày, các thôn nữ vừa đi làm, vừa nắm tình hình địch, bí mật rải truyền đơn, đậy hầm bí mật nuôi giấu bộ đội... O Hợi nhớ lại: “Nhiều lúc, tụi tui cũng áo dài tím thướt tha “dạo chơi” ở Xuân Phú, ở cổng trường sư phạm...”. Có lẽ, những cuộc “dạo chơi” đó của các chị thật sự bổ ích khi dẫn đường cho bộ đội ta tiến công chính xác các vị trí của quân địch trong mùa xuân lịch sử ấy...

Chiến công trở thành huyền thoại

Đại tá Nguyễn Công Tuấn (thứ nhất, bên trái) và đoàn cán bộ Nhà máy in Quân đội 1 thăm tặng quà Mẹ Việt Nam anh hùng Đỗ Thị Bờ
 

11 cô du kích trẻ măng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 vừa làm nhiệm vụ dẫn đường, vừa tải thương, vừa trực tiếp cầm súng đánh địch đã để lại chiến công bất hủ. Chiến thắng của các chị được nhân dân cả nước lưu danh, bạn bè quốc tế thán phục. Chỉ bằng súng tiểu liên AK, K44, một ít mìn, lựu đạn... các chị đã khôn ngoan, dàn trận đẩy lùi một tiểu đoàn lính thủy quân lục chiến “vũ trang đến tận răng” với xe tăng, xe bọc thép, máy bay yểm trợ. Kết quả chiến đấu: 11 cô du kích tiêu diệt 70 tên lính thiện chiến, phá hỏng 4 xe tăng. 4 cô gái (Hoàng Thị Sau, Đỗ Thị Hoa, Hoàng Thị Xuân, Nguyễn Thị Diên) ngã xuống đã hóa thành bất tử, góp thành biểu tượng của người phụ nữ Việt Nam trung dũng, kiên cường. Trong gian khó, trong hy sinh, Tiểu đội nữ du kích sông Hương đã cùng bộ đội, nhân dân kiên cường bám trận địa, ghìm chân địch, giữ vững thành phố suốt 25 ngày đêm. Với chiến công hiển hách ấy, Tiểu đội nữ du kích 11 cô gái sông Hương đã vinh dự được Bác Hồ gửi bài thơ khen ngợi. Thơ Bác viết :

“Dõng dạc tay cầm khẩu súng trường

Khôn ngoan dàn trận khắp trong phường

Bác khen các cháu dân quân gái

Đánh giặc Huê Kỳ phải nát xương”

Thú thật, là lớp hậu sinh, được đọc, được nghe về chiến công của các chị, về những con người anh hùng trong chiến tranh như câu chuyện của 10 cô gái thanh niên xung phong ở ngã ba Đồng Lộc, chuyện về 10 cô gái Lam Hạ, 11 nữ du kích sông Hương... lòng tôi trào dâng nỗi niềm khâm phục đến khó tả. Với các chị còn lại của Tiểu đội nữ du kích sông Hương, đến lần thứ hai trực tiếp gặp lại các chị bằng xương, bằng thịt, trong tôi vẫn trào dâng sự ngưỡng mộ. Thiếu tướng Lê Phúc Nguyên, Tổng biên tập Báo Quân đội nhân dân khi đón các chị đến thăm cơ quan đã nói: “Chiến công của 11 nữ du kích sông Hương là chiến công mang tính biểu tượng, thể hiện khí phách của người phụ nữ Việt Nam. Thế hệ sau mãi mãi ghi nhớ, tự hào với chiến công lẫy lừng đó...”.

Nội đô thành phố Huế, ở chính nơi 11 cô gái đã khôn ngoan dàn trận, dựa vào phố phường, dựa vào nhà dân mà đánh địch, nay trở thành một địa điểm, một chứng tích hào hùng. Thành phố Huế đã dựng bia tưởng niệm để ghi công 11 cô gái sông Hương. Nơi này, mỗi lần đến Huế, tôi không thể nào quên. Trong câu chuyện về các chị, Đại tá Hồ Anh Thắng, Bí thư Đảng ủy, Phó tổng biên tập Báo Quân đội nhân dân nhớ khá kỹ chi tiết chiến công của các chị:

- Phải là những người kinh qua trận mạc mới thấu hiểu lòng quả cảm của các chị. 11 tay súng tiểu liên đã chặn đứng cả một tiểu đoàn lính Mỹ là một kỳ tích trong chiến đấu. Các chị là nhân chứng sống. Với người làm báo chúng ta, điều đó thật đáng quý... Chúng ta có trách nhiệm bày tỏ lòng biết ơn, kính trọng và góp một phần công sức chung vào việc “đền ơn, đáp nghĩa” đối với các chị...

Thỏa nỗi ước mong

Chiến tranh kết thúc, người mất, người còn. Đất nước hòa bình, những tay súng nữ kiêu hùng bình thản trở về với cuộc sống đời thường. Mỗi người mỗi hoàn cảnh, nhưng các chị vẫn phát huy tốt phẩm chất của người chiến sĩ cách mạng. Chị Hoàng Thị Nở từng giữ cương vị Chủ tịch Hội Nông dân thành phố Huế suốt 17 năm. Chị Nguyễn Thị Xê (Nga) theo chồng ra Bắc, nghỉ hưu với quân hàm Đại tá, bác sĩ quân y. Chị Chế Thị Mừng là y sĩ chuyển ngành, nghỉ hưu từ Bệnh viện Trung ương Huế. Chị Nguyễn Thị Hoa là Bí thư Đảng ủy chợ Đông Ba. Chị Nguyễn Thị Hợi từng là huyện đội phó... Trở về với cuộc sống bình dị “mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh”, các chị không thật sự đầy đủ trong cuộc sống đời thường bởi có chị là thương binh, sức yếu, có chị phải nuôi con nhiễm chất độc da cam, có chị phải bán cả nhà mới có tiền đóng học phí cho con... 40 năm sau ngày giải phóng, 5 chị còn lại chỉ vẻn vẹn 4 lần được gặp nhau “tương đối đông đủ”. Lần nào gặp nhau, sau những câu chuyện không thể nào quên, các chị lại “chung niềm mơ ước" đến cháy bỏng: Khi mô được ra thăm miền Bắc, được vào Lăng viếng Bác Hồ?...

Khi gặp lại các chị, viết về các chị, phóng viên Báo Quân đội nhân dân và một vài tờ báo khác đã phản ánh nguyện vọng chung thiết tha ấy. Đảng ủy, Ban giám đốc Nhà máy in Quân đội 1 và Ban biên tập báo Quân đội nhân dân đã phối hợp tổ chức để các chị có được chuyến thăm miền Bắc ngay sau kỷ niệm 62 năm Ngày Thương binh-Liệt sĩ. Đại tá Nguyễn Công Tuấn, Giám đốc nhà máy điện thoại cho chị Hoàng Thị Nở: “Cán bộ, công nhân, chiến sĩ, người lao động của nhà máy rất cảm phục sự tinh thần dũng cảm chiến đấu, hy sinh, cống hiến của các chị đối với Tổ quốc. 11 chị, người còn, người mất, nhưng chiến công của các chị thì mãi bất tử. Là một doanh nghiệp vừa làm nhiệm vụ chính trị in ấn các sản phẩm quốc phòng, vừa khai thác các mặt hàng kinh tế, mang trong mình bản chất của người lính thợ, chúng tôi bày tỏ lòng khâm phục các chị và muốn được thể hiện tấm lòng đền đáp một phần công lao của các chị”... Báo Quân đội nhân dân, Ban chỉ huy quân sự Thành phố Huế đã “kết nối” để đoàn cán bộ Nhà máy in Quân đội 1 có dịp thăm những người mẹ, người chị anh hùng. Gặp các chị, nghe các chị bày tỏ nỗi niềm, Đại tá Nguyễn Công Tuấn quyết định mời các chị ra Bắc, thăm Đền Hùng, vào Lăng viếng Bác, thăm Khu di tích K9 và di sản thiên nhiên thế giới-Vịnh Hạ Long.

Năm “cô gái sông Hương” đã có một chuyến đi 5 ngày ra miền Bắc. Nước mắt lăn dài khi được vào Lăng viếng Bác Hồ, được tận mắt ngắm nhìn Bác trong giấc ngủ ngàn thu, được thắp nén hương thơm kính cẩn bên bàn thờ Bác. Chị Hợi, người cao tuổi nhất trong các chị nghẹn ngào: “Bác Hồ ơi! Chị em con thỏa mong ước rồi...”.

Bài và ảnh: Ngô Anh Thu