QĐND - Cuối năm 1972, Đại đội Trinh sát của Sư đoàn 7 (Quân đoàn 4) do tôi làm Đại đội trưởng đang chiến đấu ở Tây Ninh thì nhận lệnh hành quân về đánh địch ven sông La Ngà (dọc Quốc lộ 20 thuộc tỉnh Đồng Nai). Ngay sau đó, đơn vị phải cơ động liên tục nhiều ngày để đến vị trí chiến đấu mới.

Chiều 30 Tết, Tham mưu trưởng sư đoàn quyết định cho đơn vị tổ chức đón Tết ở vị trí tạm dừng trên đường hành quân. Ban chỉ huy (BCH) đại đội tiến hành hội ý bất thường, lên phương án SSCĐ tại chỗ và bàn cách tổ chức Tết cho bộ đội. Nắm thông tin từ đồng chí quản lý, đơn vị hiện vẫn còn một số gói kẹo và lương khô, đồng chí Thắng, Chính trị viên đại đội, đề xuất nên cấp cho mỗi tiểu đội một gói kẹo và hai bánh lương khô 701. Việc cấp phát như vậy có nghĩa là chỉ huy đại đội sẽ không còn lương khô tích trữ và BCH không còn phần ăn Tết. Thế nhưng không chút băn khoăn, tôi nhất trí ngay. Thế là trong chốc lát, bộ đội lần lượt đến nhận quà Tết. Khi ấy, chứng kiến niềm vui của bộ đội, cán bộ chúng tôi ai cũng sụt sùi... Chúng tôi hiểu anh em chiến sĩ quá vất vả, thiếu thốn mọi bề, quanh năm chỉ có cơm vắt sắn rừng, rau tàu bay… Bởi vậy, dịp liên hoan Tết lần này là bữa "đại tiệc" đối với toàn đơn vị.

Tối 30 Tết, sau khi đi kiểm tra và chúc Tết bộ đội, về đến lán BCH, tôi thấy đồng chí Hùng, chiến sĩ liên lạc, đang trang trí một cành mai vàng và bày biện mấy bánh lương khô lên tấm chiếu ngủ để chuẩn bị đón Giao thừa. Thấy tôi tỏ ra ngạc nhiên, Hùng nhanh nhảu: “Báo cáo Đại đội trưởng, cành mai em chặt được trên đường hành quân, còn lương khô là phần thưởng của em ở Chiến dịch Lộc Ninh đấy ạ!”. Nghe Hùng nói vậy, tôi ôm lấy cậu ta mà rưng rưng. Hùng là chiến sĩ liên lạc thông  minh, quê ở huyện Hưng Nguyên (Nghệ An). Học xong chương trình lớp 9/10 phổ thông, Hùng xung phong vào bộ đội. Hùng cùng quê với tôi nên anh em thường hay chuyện trò, tâm sự. Có lần Hùng khoe tấm ảnh và kể về người chị gái tên Hương đang là sinh viên năm thứ hai Đại học Sư phạm. Cũng từ đó, khi biết chuyện, cán bộ trong BCH thường gọi Hùng là “cậu”-tức là em vợ. Gọi như vậy vừa gần gũi, vừa để tạo không khí vui vẻ, cũng là để quên đi những vất vả, gian lao, ác liệt ở chiến trường.

Đêm Giao thừa năm ấy, vui nhất vẫn là khi được nghe các chương trình của Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Phát thanh Giải phóng, nhất là chương trình phát thanh “Dành cho chính quyền Thiệu-Kỳ”,… Thú thật, những phút giây đón Giao thừa năm đó, tôi thật sự xao xuyến nhớ nhà. Thế nhưng nghĩ đến nhiệm vụ, bản thân tự động viên mình phải rắn rỏi, mạnh mẽ để làm điểm tựa cho chiến sĩ. Năm ấy, tôi mới ngoài 20 tuổi, vừa rời ghế nhà trường là vào chiến trường cầm súng chiến đấu ngay. Tuổi còn trẻ, kinh nghiệm chưa nhiều, thế mà tôi phải “gánh” trách nhiệm về sinh mạng của hơn 100 cán bộ, chiến sĩ; thực hành chỉ huy đơn vị chiến đấu thắng lợi ở một chiến trường khốc liệt.

Qua đêm Giao thừa đến rạng sáng Mồng Một Tết, thật may mắn, các chiến sĩ nuôi quân bắt được một con chồn. Thế là "xôm". Mỗi tiểu đội cử hai chiến sĩ cùng bộ phận nuôi quân chuẩn bị một bữa “đại tiệc” đầu năm. Liên hoan xong, nghỉ ngơi đôi chút, đến tối Mồng Một Tết, đơn vị lại tiếp tục hành quân, băng rừng già, vượt sông La Ngà đến vị trí chiến đấu.

Đã hơn 40 năm trôi qua nhưng trong tôi luôn vẹn nguyên kỷ niệm về cái Tết chiến trường năm ấy. Tiếc rằng, bây giờ Chính trị viên Thắng, chiến sĩ liên lạc Hùng và nhiều đồng đội của tôi năm ấy đã vĩnh viễn nằm lại chiến trường, không được đón những cái Tết ấm no, sung túc của Tổ quốc trong những tháng ngày độc lập, thống nhất, đổi mới. Bởi vậy, mỗi khi Tết đến, Xuân về, trong tôi luôn đan xen những nỗi niềm cảm xúc nghèn nghẹn, rưng rưng…

Nhớ đồng đội, xin ghi lại mấy dòng ký ức về một cái Tết của năm xưa (!)

ĐÀO HỮU NGUYÊN