Cuối năm 1946, đầu năm 1947, trong sách báo xuất bản ở Hà Nội, và tài liệu lịch sử đã xuất bản những năm gần đây của thành phố Hà Nội, quận Hai Bà Trưng và phường Vĩnh Tuy đều ghi vắn tắt các hoạt động của Mặt trận Vĩnh Tuy cùng các Liên khu 1, 2 trong 60 ngày đêm bảo vệ Hà Nội.

Hướng tới kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long-Hà Nội, tôi xin khắc hoạ lại những dấu ấn lịch sử hào hùng của nhân dân và các lực lượng vũ trang một vùng ngoại thành Hà Nội, về những hoạt động chia lửa với nhân dân và các lực lượng vũ trang các Liên khu 1, 2 ở nội thành của Mặt trận Vĩnh Tuy mà lâu nay nhiều người còn chưa biết.

Cuối năm 1946, đầu năm 1947, làng Vĩnh Tuy Đoài với diện tích 0,4 km2, có trên 200 hộ dân, gần 1.500 nhân khẩu, nằm ở điểm mút vành đai: Nhật Tân-Bưởi-Cầu Giấy-Ngã Tư Sở-Vọng- Ngã Tư Trung Hiền (Chợ Mơ). Vĩnh Tuy Đoài án ngữ hướng Đông Nam đường ra vào nội thành bằng đường bộ và đường thuỷ (sông Hồng). Trước Cách mạng Tháng Tám, Vĩnh Tuy Đoài thuộc xã Vĩnh Tuy, tổng Hoàng Mai, huyện Hoàn Long, tỉnh Hà Đông. Sau Cách mạng Tháng Tám, thuộc khu Mê Linh (gồm Vĩnh Tuy Đoài, Đông Thiên, Tân Khai) ngoại thành Hà Nội. Tháng 3-1947, khu Mê Linh đổi thành quận 6. Tháng 10-1954, về lại xã Vĩnh Tuy, huyện Thanh Trì. Năm 1961, Vĩnh Tuy Đoài tách khỏi huyện Thanh Trì thành Tiểu khu 49 nay là phường Vĩnh Tuy, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.

Sau Hiệp định Sơ bộ Việt-Pháp ngày 6-3-1946, đơn vị quân đội Pháp về đóng ở các vị trí Đồn Thuỷ (khoảng 1 tiểu đoàn lính thuộc địa, có đơn vị thiết giáp), viện Pasteur (2 tiểu đội lính Lê dương), đồn Stake và khu cảng Phà Đen (1 đại đội lính Lê dương, 1 trung đội thuỷ quân lục chiến). Những địa danh trên thuộc địa phận Liên khu 2 (quận Hai Bà Trưng ngày nay) nhưng là những vị trí tiếp giáp với khu Mê Linh, trực tiếp là Vĩnh Tuy Đoài. Nhiệm vụ bảo vệ Liên khu 2, chủ yếu là khu Việt Nam học xá, khu Vô tuyến điện Bạch Mai, khu Ngã Tư Cầu Dền do các Tiểu đoàn 77, 64 và 212 (thiếu 1 đại đội) Vệ quốc đoàn phụ trách. Theo chủ trương của lãnh đạo thành phố, trực tiếp là Thành đội Hà Nội, tháng 10-1946 thành lập Mặt trận Vĩnh Tuy. Đồng chí Dương Ngà-Chủ tịch Uỷ ban hành chính khu Mê Linh, trực tiếp chỉ huy Mặt trận. Lực lượng chiến đấu là các đơn vị tự vệ Khu và Đại đội 3 thuộc Tiểu đoàn 212 được phối thuộc cho Mặt trận này, có nhiệm vụ: kìm giữ quân Pháp đóng trên địa bàn Liên khu 2 trực tiếp là số địch đồn trú ở đồn Stake, ngăn chặn chúng đánh ra ngoại thành; giữ vững địa bàn trong thời gian nhất định để bảo đảm đường sơ tán từ nội thành ra và từ ngoại thành tiếp ứng vào nội thành, bảo vệ sườn cho lực lượng ta chiến đấu ở khu vực Cầu Dền, Việt Nam học xá, Bạch Mai. Quán triệt nhiệm vụ của trên, Mặt trận Vĩnh Tuy đã huy động lực lượng toàn dân trong khu Mê Linh chuẩn bị kháng chiến.

Chuẩn bị kháng chiến

Theo sự chỉ đạo của lãnh đạo Khu, mỗi làng xây dựng một trung đội tự vệ chiến đấu mạnh gồm 3 tiểu đội; riêng Vĩnh Tuy Đoài là địa bàn trực tiếp tiếp xúc với địch, địa bàn hiểm yếu, nơi đặt Sở chỉ huy (tại đình làng Vĩnh Tuy Đoài) nên ở đây đã thành lập trung đội tự vệ có 4 tiểu đội, (35 cán bộ, đội viên), do ông Dương Quảng chỉ huy và 4 người giúp việc các mặt tác chiến, phá hoại, tiếp tế, cứu thương; thành lập đội tiếp tế 12 người do bà Dương Thị Nhường phụ trách; thành lập đội cứu thương 6 người do ông Dương Văn Trường làm đội trưởng. Về trang bị, Mặt trận được trên trang bị một số bom (cỡ 15-25kg) lấy từ kho vũ khí của Nhật, đã được Quân giới cải tiến thành mìn, địa lôi, lựu đạn nổ, lựa đạn cháy đánh xe cơ giới. Khu tự rèn kiếm, giáo, mã tấu... Mỗi đội viên tự vệ đều có vũ khí, riêng Trung đội tự vệ Vĩnh Tuy Đoài được trang bị 10 khẩu súng. Đội viên Tự vệ được các chiến sĩ Vệ quốc đoàn huấn luyện sử dụng binh khí, xạ kích, chiến thuật đánh du kích.

Đồng thời với việc chuẩn bị lực lượng, khu Mê Linh còn huy động nhân dân tham gia lập vật cản như gài mìn, chôn cọc, đắp ụ trên đê đoạn Lương Yên-Yên Sở; đắp ụ, đào hầm chữ chi, gài mìn trên đoạn đường nhựa dọc bờ sông từ cảng Phà Đen xuống Vĩnh Tuy Đoài.

Các vị trí đánh địch của bộ đội và tự vệ đều đắp thành ụ chiến đấu trên mặt đê. Trong làng, nhân dân đào hầm ẩn nấp ngay trong nền nhà hoặc ngoài vườn. Các vị trí quan sát đều dựng chòi tránh mưa nắng.

Đánh địch từ đêm 19-12-1946

Trong đêm 19-12-1946, cùng lúc pháo ta bắn vào Thành Hà Nội mở đầu cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược thì ở phía Liên khu 2, Tiểu đoàn 77 và Tiểu đoàn 212 Vệ quốc đoàn (thiếu 1 đại đội) nổ súng tấn công địch ở Đồn Thuỷ, Viện Pasteur, còn lực lượng ở Mặt trận Vĩnh Tuy Đoài tấn công đồn Stake và cảng than (bãi chứa hàng cảng Phà Đen).

Đồn Stake trước là khu xưởng cơ khí của một người chủ Pháp để sửa chữa tầu thuyền, các máy móc, thiết bị bốc, dỡ hàng ở cảng. Nhật đảo chính Pháp, chiếm khu xưởng này, biến thành vị trí đóng quân cho lực lượng bảo vệ cảng. Nhật cho xây dựng thành đồn phòng thủ. Chúng đào hào rộng 1,5m, bố trí nhiều lớp dây thép gai, đắp tường cao trên 2m, dày 0,5m có lỗ châu mai, 4 góc xây 4 lô cốt vừa là chòi canh vừa là vị trí đặt hoả lực mạnh. Khi Pháp vào Hà Nội, chúng tiếp nhận từ tay quân Trung Hoa dân quốc và đưa 1 đại đội lính Lê dương, 1 trung đội thuỷ quân lục chiến đến chiếm đóng vị trí này. Hoả lực có trọng liên 12,7 ly, cối 81 ly.

Lực lượng ta tham gia đánh đồn Stake có Đại đội 3 Vệ quốc đoàn (thiếu), do đồng chí Lưu Bá chỉ huy, Trung đội tự vệ Vĩnh Tuy Đoài và 2 trung đội (thiếu 2 tiểu đội) tự vệ của 2 thôn Tân Khai và Đông Thiên. Hoả lực ta chỉ có 1 khẩu trung liên, 6 tiểu liên, còn lại là súng trường, mã tấu. Đúng 20 giờ, toàn thể bộ đội và tự vệ làm lễ xuất quân tại đình làng, thực hiện phương án tác chiến: bí mật tiếp cận, dùng bom (cải tiến) nổ phá tường, rồi xung phong chiếm đồn.

Khoảng 22 giờ, bộ phận dùng bom phá tường vào sát đồn cắt rào, bị hoả lực địch bắn cản làm 1 chiến sĩ Vệ quốc đoàn, 1 tự vệ bị thương, phải dùng phuy 200 lít chứa đầy cát lăn phía trước đỡ đạn nhưng vẫn không tiến lên được. Mờ sáng 20-12, các lực lượng ta phải lui quân về phòng ngự trên mặt đê. Liên tiếp các đêm sau, ta dùng súng máy bắn vào các chòi canh, dùng rơm tẩm đốt cho khói theo gió tạt về phía địch nhằm uy hiếp địch và chờ trên tăng viện. Đêm 26-12, trên điều 1 khẩu pháo 75 ly và 1 khẩu 37 ly từ Thổ Khối sang bố trí gần lò bát Thanh Trì (nay là Công ty Sứ Viglacera), đài quan sát đặt trên ống khói lò bát, bắn vào Stake và cảng than. Từ nơi đặt pháo đến đài quan sát xa hơn 500m, không có điện thoại nên phải bố trí cách 20m/1 chiến sĩ tự vệ để truyền kết quả bắn cho pháo nên hiệu quả không cao, lại bị đại bác từ Gia Lâm bắn trả.

Ngày 27-12, địch cho hơn 100 quân và đơn vị thiết giáp từ Đồn Thuỷ theo đường bờ sông đánh xuống Vĩnh Tuy. Chúng tiến chậm vì vấp mìn, phá chướng ngại vật, lại bị ta bắn tạt sườn làm chết và bị thương một số, đồng thời, ta bắt được 3 tên Việt gian dẫn đường… nên chúng phải rút lui. Ngày 3-1-1947, cùng lúc địch dùng lực lượng đánh xuống Thanh Nhàn. Cánh thứ 2 chia làm hai mũi tiến theo đường đê và đường cái sát bờ sông đánh xuống Vĩnh Tuy, nhưng đều bị lực lượng của Liên khu 2 và khu Mê Linh chặn đánh. Quân Pháp tháo chạy, để lại 10 xác chết. Ta và Pháp có thoả thuận ngừng bắn để Hoa kiều tản cư vào ngày 15-1, nhưng khi đã có viện binh, quân Pháp đã không thực hiện thoả thuận này. ở Liên khu 2 và Mặt trận Vĩnh Tuy, chiều 14-1-1947, địch dùng máy bay Morane chỉ mục tiêu cho pháo ở Gia Lâm và súng cối ở Stake bắn vào Vĩnh Tuy Đoài, làm sập nhiều nhà, 5 chiến sĩ và dân thường tử trận. 1 giờ sáng 15-1-1947, chúng dùng ca-nô chở 1 đại đội thuỷ quân lục chiến và bộ binh, tắt máy cho trôi xuôi từ cảng Phà Đen xuống, đổ bộ lên bãi ngô gần lò gạch, bí mật qua bờ đầm, nơi có ngôi mộ hoang (dân gọi là Mả thằng què) rải quân vây kín mặt phía Nam làng. Đến 5 giờ 30 phút, mũi bao vây nổ súng cũng là hiệu lệnh cho mũi thứ 2, mũi thứ 3 của địch từ Stake xuất phát, dùng xe ủi đi trước phá vật cản. Mũi 2 có một đại đội bộ binh, 4 xe thiết giáp, 1 xe ủi, tiến theo đường bờ sông; mũi thứ 3 có khoảng 2 trung đội bộ binh, 3 xe ô tô, 1 xe ủi, theo đường đê từ Lò Lợn-Lương Yên đánh xuống. Quá trình tiến quân, chúng dùng máy bay Morane chỉ huy pháo bắn vào làng và những nơi nghi ngờ có quân ta. Đến 9 giờ 30 phút, ba cánh quân địch hợp điểm, tiếp tục càn quét làng Vĩnh Tuy. Địch sục vào từng nhà, xả súng, ném lựu đạn xuống hầm, châm lửa đốt nhà lợp tranh, dùng xe ủi húc đổ đình làng, các nhà lợp ngói, thực hiện chính sách “đốt sạch, giết sạch”, biến làng Vĩnh Tuy thành một bình địa. Đây là một tội ác hết sức dã man của quân đội thực dân Pháp đối với Hà Nội mà trước đây nhiều người chưa biết, chưa tố cáo trước dư luận.

Khoảng 15 giờ, địch từ Vĩnh Tuy Đoài theo đường vành đai tiến đánh Ngã Tư Trung Hiền (Chợ Mơ), chọc một mũi vào sườn quân ta đang chiến đấu tại Mặt trận Liên khu 2. Một tiểu đội Vệ quốc đoàn và tự vệ, trên đường rút qua nghĩa trang Hợp Thiện xuống Mơ Táo-Mai Động đã đánh vào đội hình địch, đốt cháy xe thiết giáp, giết và làm bị thương hơn 10 tên. Đồng chí Dương Ngà-Chỉ huy trưởng Mặt trận, cùng đại bộ phận bộ đội, tự vệ và dân thường đã khôn khéo rút khỏi trận địa.

Mặt trận Vĩnh Tuy, sau 28 ngày đêm đánh địch, bảo vệ đường tiếp tế cho các Mặt trận Liên khu 1, 2; ngăn chặn địch đánh rộng ra ngoại thành; bảo vệ sườn cho quân ta chiến đấu ở Liên khu 2, đã hoàn thành nhiệm vụ. Các chiến sĩ tự vệ ở Mặt trận này đều chuyển thành quân đội, công nhân quân giới và chiến sĩ an ninh, tiếp tục đi vào cuộc trường kỳ kháng chiến của dân tộc.

Trận đánh cảm tử của Dương Văn Bé diệt bốt Vĩnh Tuy

Chiếm được Vĩnh Tuy Đoài, quân Pháp bố trí một trung đội lính khoảng 30 tên, cải tạo ngôi nhà 2 tầng thành nơi đóng quân. Xung quanh bên ngoài vót cọc tre cắm thành rào chắn, bên trong dùng đất đắp thành tường chắn đạn, đục tường 4 phía thành lỗ châu mai, một khẩu 12,7 ly bố trí ở tầng 2, hai khẩu đại liên bố trí ở tầng một, vì vậy dân gọi là bốt Vĩnh Tuy.

Sau khi Mặt trận Vĩnh Tuy vỡ (15-1-1947), khu Mê Linh đổi thành Quận 6, ổn định lại tổ chức Đồng chí Dương Ngà làm Quận trưởng, đồng chí Quang Nghĩa làm Bí thư. Các đơn vị tự vệ, trong đó có Trung đội tự vệ Vĩnh Tuy Đoài được bổ sung cho các đơn vị bộ đội chủ lực. Bộ đội chủ lực Quận 6 có các đại đội 1, 2, 3. Đại đội 3 do các đồng chí Quốc Hùng làm Đại đội trưởng, Dương Thắng làm Chính trị viên, có 3 trung đội (635, 637, 639), quân số trên 120 người, trang bị chủ yếu là mã tấu, bom mìn, lựu đạn. Nhiệm vụ chủ yếu của Đại đội 3 là hoạt động vũ trang, tuyên truyền, diệt phản, trừ gian, củng cố lòng tin trong nhân dân khu vực Vĩnh Tuy-Mai Động-Khuyến Lương-Yên Sở. Theo chủ trương của trên, ta đưa dân trở về làng cũ, gài cán bộ để xây dựng cơ sở hoạt động bí mật.

Cuối tháng 3-1947, đáp lại lời Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi bộ đội và dân quân tự vệ Thủ đô đẩy mạnh chiến tranh du kích ngày 5-3-1947, các lực lượng vũ trang ngoại thành Hà Nội đã có nhiều trận đánh vang dội như trận Cự Đà-Khúc Thuỷ, Quận 5 (27-3-1947), diệt 60 tên; trận phục kích ở Yên Sở-Đan Phượng (2-4-1947) của Quận 4, diệt 50 tên.

Đồng chí Lâm Văn Son-Quận đội phó Quận 6 giao nhiệm vụ cho Đại đội 3 dùng bom đánh cảm tử diệt bốt Vĩnh Tuy. Đại đội 3 có nhiều chiến sĩ xung phong nhận nhiệm vụ này. Ban chỉ huy chọn Dương Văn Bé-là chiến sĩ quân báo thuộc Trung đội 635, nguyên là chiến sĩ tự vệ làng Vĩnh Tuy, rất thông thuộc địa hình, đã nhiều lần vào nắm địch ở bốt Vĩnh Tuy, đảm nhận trận đánh này. Phương án tác chiến dự kiến là: sau khi Dương Văn Bé ôm bom phá bốt thì 2 trung đội phục kích cách 100m xung phong đánh giáp lá cà diệt địch, chiếm bốt.

Khoảng hơn 11 giờ ngày 10-4-1947, một tiếng nổ đinh tai, một quầng lửa bùng lên trùm kín bốt. Hai trung đội được lệnh nhích đội hình lên áp sát bốt để đồng loạt xung phung. Nhưng ít phút sau súng liên thanh của địch từ vọng quan sát trên bờ đê quét xuống, súng cối ở Stake và Đồn Thuỷ, đại bác ở Gia Lâm bắn trùm lên làng Vĩnh Tuy. Tổ quân báo do Dương Văn Sung dẫn đầu vào tìm Bé nhưng không thể tiếp cận bốt được. Khoảng 2 giờ 30 phút, đơn vị được lệnh lui quân.

Kết quả trận đánh: bốt Vĩnh Tuy bị đánh sập, địch phải dùng 3 chuyến xe chở xác chết và lính bị thương. Chiến sĩ Dương Văn Bé hy sinh.

Trận đánh đã chặt đứt một mắt xích của vành đai quanh Hà Nội mà quân Pháp vừa tạo dựng, chứng minh quân đội ta, dù còn non trẻ, thiếu trang bị, đã tìm ra cách đánh thông minh, phá được đồn bốt, diệt được sinh lực, làm cho binh lính, sĩ quan Pháp hoang mang, run sợ. Chiến thắng này có sức cổ vũ lớn củng cố lòng tin cho nhân dân vào Chính phủ Hồ Chí Minh, vào cuộc kháng chiến trường kỳ nhất định thắng lợi, tin tưởng Hà Nội nhất định sẽ được giải phóng.

Đối với nhân dân phường Vĩnh Tuy, Dương Văn Bé đã trả thù cho tội ác của quân Pháp đối với dân làng ngày 15-1-1947. Giữa năm 1947, quân Pháp mở rộng vùng chiếm đóng ra ngoại thành, ta phải lui quân về hậu cứ, tiếp tục củng cố lực lượng, chuẩn bị cho sự nghiệp trở về giải phóng Thủ đô Hà Nội sau này.

NGÔ QUANG CHIÊN