 |
| Phút thư giãn ở chiến trường. |
Anh Chanh (Bùi Ngô Chanh) với tôi là hai anh em con bá con dì, mẹ anh là chị, mẹ tôi là em. Anh vào chiến trường trước tôi một năm, cũng không biết anh ở đơn vị nào. Nào ngờ trong một lần đi lấy gạo, gặp nhau ở dốc trạm 13 tôi mới nhận ra anh. Vậy là hai anh em cùng một sư đoàn.
Gặp ở dốc trạm 13
Đầu năm 1970, sau khi mở chiến dịch Hiệp Đức thắng lợi, Sư đoàn 2 được lệnh hành quân từ Quảng Nam ngược đường Trường Sơn ra phía Bắc. Vừa hành quân vào chiến trường mới được nửa năm, bao gian truân vất vả, giữa cái sống và cái chết kề nhau gang tấc. Nay được hành quân ra Bắc, ai nấy đều tỏ niềm vui mừng. Nào ngờ đến Nam Lào, chúng tôi được lệnh dừng chân củng cố, xây dựng doanh trại. Trong chúng tôi, anh em chuyền nhau câu vè “Sư đoàn 2 là sư đoàn thép, không cho đi phép là sư đoàn nhôm, cho đi mấy hôm lại là sư đoàn thép”. Bởi ở chiến trường Quảng Nam, cả sư đoàn đói, có đợt hàng chục ngày không có một hạt cơm, dạ dày toàn môn dóc, môn thục, khoai sắn, nên khi dừng chân ở Nam Lào, sư đoàn được trên tăng cường khẩu phần gạo hằng ngày bình quân 1kg/người, thế mà cũng “đánh bay”. Có lần đi lấy gạo, ba anh em chúng tôi nấu cả xoong to cơm cũng ăn hết. Đến tháng thứ hai thì khẩu phần rút xuống còn 9 lạng, rồi 8 lạng và chốt lại 7 lạng gạo/người/ngày, ít người cảm thấy “đói” cơm nữa.
Một lần đi lấy gạo, trên vai khoác gùi gạo gần 40kg, đang “gò lưng tôm” leo lên dốc trạm 13 thì gặp một đoàn quân đi vào, tôi nhận ra người quen, liền kéo lại hỏi: “Có phải anh là anh Chanh?”. Nhận ra người nhà, anh Chanh ôm lấy tôi: “Có phải em là thằng Tàu?” bởi hồi bé tôi gầy yếu, mọi người quen gọi là “Tàu đói”. Tôi thốt lên: “Em là Tàu đây!”. Thế là hai anh em ôm chặt lấy nhau, nước mắt chảy dài, mà không nhớ trên vai đang khoác nào là ba lô, súng đạn, máy thông tin và cả gùi gạo. Một lúc sau, anh Chanh đỡ gùi gạo cho tôi, hai anh em ngồi bệt xuống vệ đường, thông tin cho nhau về quê hương, gia đình. Còn anh tôi tiết lộ, đi chuẩn bị chiến trường, cả sư đoàn chuẩn bị vào chiến dịch.
Hồi ấy tôi ở tiểu đoàn 10 đặc công, từ một tiểu đội trưởng, được điều lên làm quân khí đại đội, lo nhận vũ khí trang bị cho đơn vị. Còn anh tôi thì làm lính thông tin ở tiểu đoàn 17. Cả hai anh em cùng một sư đoàn nhưng nửa năm ở chiến trường mà không gặp mặt. Sau chiến dịch Nam Lào, tôi được điều lên cơ quan chính trị sư đoàn, làm trợ lý quân pháp-bảo vệ. Chiến dịch liên miên, rồi lại hành quân vào chiến trường Tây Nguyên, giải phóng Đắc Tô-Tân Cảnh. Mặc dù anh em gần nhau, nhưng hàng năm cũng không gặp mặt.
Trước giờ vào trận đánh
Bẵng đi một thời gian khá dài, có lẽ đến gần hai năm, suốt từ khi đi chuẩn bị chiến trường đầu năm 1971, đến cuối năm 1972, khi trở về chiến trường Bình Định-Nam Quảng Ngãi, tôi cũng không gặp mặt anh Chanh. Một buổi chiều, tôi cùng anh chị em cơ quan chính trị đi công tác ở xã Phổ Cường, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi. Trên đường trở về căn cứ sư đoàn, đang gò lưng hành quân lên dốc, thì gặp một đoàn bộ đội lỉnh kỉnh súng đạn đang khẩn trương hành quân xuống đồng bằng. Dường như sợ muộn giờ, họ hối thúc nhau đi như chạy. Đang đi anh Chanh gọi giật giọng: “Tàu hả? Ngồi lại đây với anh một chút”. Tôi đặt ba lô, hỏi anh đi đâu mà vội thế, anh tôi không nói rõ nhiệm vụ, rút vội trong túi áo ngực cuốn sổ nhỏ bằng bàn tay, đưa tôi rồi nói: “Em giữ cho anh cuốn nhật ký này”. Rồi vội vàng đứng dậy, chạy theo hàng quân đang xuống núi.
Nhìn anh đi khuất sau đám cây rừng, tôi mới khoác ba lô đuổi theo anh em trong đơn vị. Không ngờ chiều tối hôm ấy, lại là buổi gặp cuối cùng của hai anh em chúng tôi. Vài ngày sau, tôi được một cán bộ ở tiểu đoàn thông tin 17 báo cho biết: “Chanh đã hy sinh đêm ngày... không lấy được thi thể đưa về hậu cứ chôn cất”. Tin anh Chanh mất như sét đánh ngang tai, đây là nỗi mất mát quá lớn, làm tôi buồn, mệt mỏi đến chục ngày nhưng không có cách gì để báo tin về gia đình được.
Những ngày sau đó, trong các chuyến đi công tác ở Phổ Cường, tôi dò hỏi người dân xung quanh về trận đánh đêm hôm ấy. Mọi người đều cho biết, trong trận đánh có gần chục chiến sĩ hy sinh, sáng ra bọn địch bắt dân gom lại, chôn chung trong một cái hố rộng. Đó là ngôi mộ chung của các liệt sĩ, những người đã anh dũng hy sinh vào những ngày cuối năm 1972.
Cuốn nhật ký được tôi giữ gìn cẩn thận. Mãi cuối năm 1975, lần đầu được đơn vị cho đi phép về thăm gia đình, tôi trân trọng trao lại cuốn nhật ký-kỷ vật thiêng liêng duy nhất của anh Chanh cho gia đình anh tôi trong niềm tiếc thương vô hạn, một chiến sĩ thông tin được bạn bè cùng trường cấp 3 Từ Sơn mến mộ, mệnh danh là “Toán giỏi như Ngô Chanh!”.
Bài và ảnh: Văn Hướng